Từ cơn khát Trần Gian đến Nguồn Nước Hằng Sống (Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật III Mùa Chay – năm A

11 lượt xem

TỪ CƠN KHÁT TRẦN GIAN ĐẾN NGUỒN NƯỚC HẰNG SỐNG
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Iii Mùa Chay – Năm A

Maria Fiat Diệu Huyền, MTG Vinh

LỜI CHÚA: Gio-an 4, 5-42

5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”

27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.

31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”

39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”

SUY NIỆM: TỪ CƠN KHÁT TRẦN GIAN ĐẾN NGUỒN NƯỚC HẰNG SỐNG

“Nước Hằng Sống” là chủ đề xuyên suốt của Chúa nhật III Mùa Chay năm A. Bài đọc I gợi lại hình ảnh kỳ diệu: nước vọt ra từ tảng đá trên núi Khôrếp theo lệnh của ông Môsê, khi dân Israel kêu than vì cơn khát trong sa mạc. Từ khung cảnh đó, Phụng vụ dẫn chúng ta tiến xa hơn, hướng đến đỉnh cao của hành trình dự tòng là bí tích Rửa Tội trong đêm Vọng Phục Sinh. Bài Tin Mừng hôm nay vì thế mở ra trước mắt chúng ta một hành trình đức tin: cuộc gặp gỡ đầy biến đổi giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari bên giếng Giacóp.

Nước là điều kiện căn bản của sự sống. Không chỉ con người mà muôn loài và cả vũ trụ đều cần đến nước để tồn tại. Trong thế giới tự nhiên, khi ánh nắng gay gắt thiêu đốt mặt đất, đất đai trở nên khô cằn và nứt nẻ. Chính lúc ấy, ta mới cảm nhận rõ ràng đất khát nước đến nhường nào. Chỉ cần một cơn mưa rơi xuống, đất khô hạn lại trở nên mềm mại, tươi mát. Thiên nhiên có những quy luật tự điều chỉnh để tái lập sự cân bằng. Nhưng thế giới nội tâm của con người thì khác.

Từ thuở bình minh lịch sử, con người luôn mang trong mình những cơn khát sâu thẳm. Dù trí tuệ nhân loại đạt đến nhiều thành tựu rực rỡ và đời sống vật chất ngày càng phong phú, nhưng con người vẫn chưa bao giờ thực sự thỏa mãn. Những khát vọng hiện sinh vẫn âm thầm dày vò tâm hồn nhân loại. Không phân biệt giai cấp hay địa vị, người giàu sang, trí thức hay những người bình dân đều mang trong lòng những cơn khát khắc khoải của cuộc sống. Con người có thể uống nước để làm dịu cơn khát thể lý, nhưng điều gì có thể lấp đầy cơn khát sâu thẳm của tâm hồn? Nhân loại vẫn miệt mài tìm kiếm câu trả lời. Đối với những ai mải mê lao mình vào vòng xoáy của tiền tài và danh vọng, câu trả lời dường như vẫn còn bị che khuất. Nhưng với những tâm hồn biết lắng nghe, câu trả lời ấy đã được Chúa Giêsu mặc khải trong bài Tin Mừng hôm nay.

Thánh Gioan kể lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari bên giếng Giacóp. Đây là một cuộc hạnh ngộ thật lạ lùng và dường như không thể xảy ra. Một bên là người Do Thái, một bên là người Samari – hai dân tộc vốn mang trong mình mối thù truyền kiếp. Thế nhưng Chúa Giêsu đã mạnh dạn vượt qua bức tường ngăn cách ấy. Người phá vỡ rào cản của định kiến xã hội, bước vào thế giới tâm lý của người phụ nữ, và sau cùng chạm đến chiều sâu của tâm hồn chị.

Sau một hành trình dài mệt nhọc, Chúa Giêsu ngồi nghỉ bên bờ giếng vào giờ chính ngọ và xin người phụ nữ Samari chút nước uống. Người phụ nữ ấy vốn bị xã hội khinh miệt và xa lánh. Vì thế, chị phải đi kín nước vào giữa trưa nắng gắt, thay vì vào lúc sáng sớm hay chiều mát như những phụ nữ khác. Chị chọn giờ ấy để tránh ánh mắt và lời xì xào của người đời. Nhưng chính vào lúc ấy, chị lại gặp Chúa Giêsu. Cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ này lại trở thành bước ngoặt quyết định của cuộc đời chị.

Ban đầu, người phụ nữ Samari viện dẫn Lề Luật để giữ khoảng cách với Chúa Giêsu, đồng thời tỏ ra tự hào về truyền thống tôn giáo của dân tộc mình. Nhưng Chúa Giêsu không tranh luận theo lối đối đầu. Với sự kiên nhẫn và lòng cảm thông, Người dẫn dắt chị từng bước. Từ nhu cầu rất cụ thể là nước uống, Người mở ra cho chị một chân trời mới: Nước Hằng Sống. Đó không phải là thứ nước dưới lòng giếng mà ngày nào chị cũng phải múc, nhưng là nguồn nước đem lại sự sống đời đời. Từ cơn khát thể lý giữa trưa hè nóng bức, Chúa Giêsu giúp chị nhận ra cơn khát sâu xa hơn của tâm hồn: cơn khát ân sủng và tình yêu đích thực. Quá khứ tội lỗi của chị – với những mối tương quan đổ vỡ và những khát vọng hạnh phúc lầm lạc – giống như một tảng đá nặng nề đè lên cuộc đời. Nhưng khi gặp gỡ Chúa Giêsu, tảng đá ấy đã bị phá vỡ. Nơi đó bắt đầu tuôn trào một nguồn nước mới: nguồn nước của ơn cứu độ.

Nhờ cuộc gặp gỡ này, cuộc đời người phụ nữ Samari đã hoàn toàn đổi thay. Chị được dẫn vào một cách thờ phượng mới: không còn gắn với một địa điểm như núi Gôrizim hay Giêrusalem, nhưng là thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và Sự Thật. Và điều bất ngờ hơn nữa: người phụ nữ từng sống trong mặc cảm và hổ thẹn nay lại trở thành chứng nhân cho Đức Kitô. Chị bỏ lại chiếc vò nước, chạy về làng loan báo tin vui. Từ một con người lẩn tránh ánh mắt người đời, chị trở thành người mang ánh sáng Tin Mừng cho cả cộng đoàn. Niềm vui bừng lên từ sâu thẳm tâm hồn chị, đúng như lời Chúa Giêsu đã hứa: “Nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Giêsu,

Cuộc đời chúng con nhiều khi khô cằn như mảnh đất hạn hán,
bị thiêu đốt bởi những cơn khát tiền tài, danh vọng và lạc thú.
Những khát vọng ấy nhiều khi che khuất
cơn khát sâu thẳm của tâm hồn đang tìm kiếm Chúa.

Xin cho Lời Chúa trở nên mạch nước hằng sống,
tuôn trào vào cõi lòng khô cạn của chúng con,
tưới mát tâm hồn và thanh luyện mọi vết nhơ của tội lỗi.

Xin cho chúng con biết từ bỏ những khát vọng hư ảo
để tìm đến nguồn nước đích thực là chính Chúa,
hầu tâm hồn chúng con luôn tràn đầy ân sủng
và sự sống thánh thiện. Amen.