
DẪN NHẬP
Công đồng Vaticanô II có hai văn kiện mang tựa đề có cụm từ “muôn dân”, là Hiến chế Ánh sáng Muôn dân (Lumen Gentium) và Sắc lệnh Đến với Muôn dân (Ad Gentes). Hai cụm từ này đều gợi lại lời của ngôn sứ Isaia (42,6 và 49,6), ám chỉ người Tôi Trung của Thiên Chúa được sai đến để soi sáng và đem ơn cứu độ cho muôn dân. Trước tiên, lời ngôn sứ này được áp dụng vào Chúa Kitô, sau đó được áp dụng vào Giáo hội. Vì thế, cho đến ngày cánh chung, Giáo hội vẫn đang và sẽ luôn là ánh sáng và là dấu chỉ ơn cứu độ cho toàn thể thế giới.
Trong dòng lịch sử và cụ thể từ Công đồng Vaticanô II, Giáo hội luôn ý thức về sứ mạng của mình, được sai đi để đồng hành và đối thoại, để đồng cảm và chia sẻ niềm vui và hy vọng, nỗi buồn và lo âu với toàn thể nhân loại (x. GS 1). “Ơn gọi thừa sai” được Công đồng trình bày rõ nét trong một số văn kiện, như Hiến chế Lumen Gentium, trong đó trình bàyGiáo hội là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (LG 48), và mời gọi mọi thành phần Dân Chúa tham gia vào sứ mạng này (x. LG 31–33). Giáo hội khẳng định sứ mạng phổ quát ấy dựa trên nền tảng căn bản là, nhờ Bí tích Rửa tội và Thêm sức, mọi Kitô hữu được thông dự vào ơn gọi thừa sai của Đức Kitô qua ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế (x. GS 31, AA 2). Hơn nữa, với Sắc lệnh Ad Gentes, Giáo hội khẳng định bản chất thừa sai của mình, chính Giáo hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo Ý định của Chúa Cha (x. AG 2).
Lần đầu tiên trong lịch sử công đồng, một văn kiện riêng biệt được dành riêng để nói về ơn gọi thừa sai (Sắc lệnh Ad Gentes). Trước khi đề cập đến hoạt động truyền giáo theo nghĩa mục vụ và thực hành, sắc lệnh trình bày nền tảng thần học về ơn gọi thừa sai, tức sứ mạng truyền giáo của Giáo hội. Cũng từ đây, thần học về truyền giáo của Giáo hội đã có những tiến triển vững vàng làm nền tảng cho hoạt động truyền giáo của Giáo hội hoàn vũ, và còn tiếp tục ảnh hưởng đến sứ mạng của Giáo hội trong thế giới hôm nay.
Bài viết này trình bày ơn gọi thừa sai theo Công đồng Vaticanô II. Tuy nhiên, về phương diện thuật ngữ, hạn từ ơn gọi thừa sai, về bản chất, cũng là sứ mạng truyền giáo của Giáo hội. Vì vậy, trong bài viết, dù đã cố gắng sử dụng hạn từ ơn gọi thừa sai cho phù hợp với chủ đề, nhưng cũng có lúc hạn từ sứ mạng truyền giáo được sử dụng một cách rất tự nhiên. Hơn nữa, vì đã có nhiều tài liệu nghiên cứu và trình bày về ơn gọi truyền giáo theo Công đồng Vaticanô II,[1] bài viết này chỉ trình bày sơ lược điểm nhấn thần học về truyền giáo, dựa trên giáo huấn của Công đồng, trong đó không thể bỏ qua sắc lệnh Ad Gentes. Bài viết do đó sẽ trình bày ba điểm chính: 1) Bối cảnh lịch sử của ơn gọi thừa sai trước Công đồng Vaticanô II; 2) Thần học về ơn gọi thừa sai theo Công đồng Vaticanô II; và 3) Những ảnh hưởng của nền thần học này lên các văn kiện hậu Công đồng.
I. BỐI CẢNH THẦN HỌC VÀ LỊCH SỬ
1. Bối cảnh thần học
Công đồng Vaticanô II đã mở ra cánh cửa với thế giới, đang khi cũng nhìn lại ơn gọi và sứ mạng của chính mình. Trong giai đoạn thứ hai của Công đồng, một sắc lệnh được ban hành để bàn về hoạt động truyền giáo của Giáo hội (Ad Gentes, 1965). Sắc lệnh này được hình thành nhờ sự đóng góp của các Nghị phụ, các cố vấn thần học, trong sự phối hợp với Thánh Bộ Truyền giáo. Sắc lệnh Ad Gentes kế thừa giáo huấn của các văn kiện từ các đức giáo hoàng tiền nhiệm. Trước tiên phải kể đến Tông thư Maximum Illud (1919), sau đó là các Thông điệp Rerum Ecclesiae (1926), Evangelii Praecones (1951), Fidei Donum (1957) và Princeps Pastorum (1959). Về phần mình, Sắc lệnh Ad Gentes một đàng cố gắng trình bày các nguyên tắc hoạt động truyền giáo của Giáo hội, đàng khác cập nhật theo tinh thần đổi mới của Công đồng Vaticanô II.
Cụ thể, Sắc lệnh Ad Gentes chịu ảnh hưởng và có mối liên hệ với các Hiến chế Lumen Gentium, Gaudium et Spes, các Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, Unitatis Redintegratio, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae và nhiều văn kiện khác nữa. Có thể nói một cách thậm xưng rằng, nếu Công đồng Vaticanô II đặt trọng tâm là mở cửa ra với xã hội, đưa Giáo hội vào cuộc đối thoại với thế giới hiện đại, thì Ad Gentes là một phần quan trọng đó. Nó đại diện cho sự chuyển đổi từ mô hình truyền giáo từ trên xuống sang mô hình dấn thân phục vụ vì phần rỗi các linh hồn. Bên cạnh đó, Ad Gentes cũng nhấn mạnh Giáo hội là muối đất và ánh sáng thế gian (x. AG 1. 36) và thúc đẩy hợp tác đại kết với các Kitô hữu khác.
2. Bối cảnh lịch sử
Trong giai đoạn hậu chiến tranh thế giới thứ hai, nhân loại tiếp nhận sự kết nối mạnh mẽ giữa các lục địa nhờ các phương tiện đi lại và phương tiện truyền thông ngày càng thuận tiện. Cũng vậy, thế giới chứng kiến sự trỗi dậy của các phong trào độc lập ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Điều này thách thức những yêu sách mới của ơn gọi thừa sai, làm sao để ngày càng giảm bớt tính áp đặt của các nước lớn, trái lại gia tăng nhiều hơn tính bản địa. Hơn nữa, sự gia tăng dân số ở cấp độ toàn cầu, sự bành trướng của chủ nghĩa vô thần, cùng với tốc độ đô thị hóa cũng khiến cho sứ mạng thừa sai của Giáo hội càng trở nên cấp bách hơn.
Khi mở ra nhiều hơn với các lục địa châu Á và châu Phi, Giáo hội đặt mình trước thách đố của sứ mạng thừa sai cho những thành phần chưa nhận biết Chúa, chưa được nghe đến Tin mừng của Đức Kitô. Hơn nữa, Giáo hội còn đối diện với những tôn giáo lớn như Hồi giáo, Ấn Độ giáo và Phật giáo.
II. THẦN HỌC VỀ ƠN GỌI THỪA SAI
Thần học về ơn gọi thừa sai của Công đồng Vaticanô II trước tiên đặt nền tảng trên Kinh thánh, kế đó là Truyền thống của Giáo hội và Huấn quyền. Dựa trên nền tảng ấy, Công đồng khẳng định, Giáo hội tự bản chất là truyền giáo (x. AG 2). Quả vậy, sứ mạng của Giáo hội phát xuất từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo thánh ý của Chúa Cha. Nghĩa là, Giáo hội không thể chỉ hiện hữu cho chính mình, nhưng luôn được sai đi để trở thành “dấu chỉ và khí cụ” hiệp thông với Thiên Chúa và sự hiệp nhất nhân loại (x. LG 1).
1. Nền tảng Ba Ngôi
a) Từ ý định của Chúa Cha
Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, loan báo Tin mừng không chỉ là một hoạt động riêng lẻ, nhưng đó chính là cách thức Thiên Chúa bày tỏ và thực hiện ý định cứu độ của Người trong lịch sử nhân loại (x. AG 9). Và mục đích sau cùng của kế hoạch cứu độ, là quy tụ mọi sự trong Đức Kitô.
Chính từ suối nguồi tình yêu của Chúa Cha, qua sứ mệnh của Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần mà ơn gọi thừa sai phát xuất ra (x. Ga 3,16; Cv 2). Chúa Con, Đấng Cứu độ nhập thể, được sai đến thế giới làm trung gian duy nhất của mặc khải, của hiệp nhất và cứu độ, chính Người đã thiết lập Hội thánh như bí tích của ơn cứu độ. Cũng vậy, trong Chúa Thánh Thần, Đấng hoàn tất công trình cứu độ trong tâm hồn con người, đã linh hoạt Hội thánh, thúc đẩy Hội thánh trở thành những thừa sai thi hành sứ mạng cứu độ.
b) Sứ mệnh của Chúa Kitô
Thiên Chúa Cha muốn cứu độ toàn thể nhân loại, nhưng không phải chỉ bằng cách âm thầm kín đáo nơi tâm trí con người, hoặc qua những sáng kiến, để từ đó con người có thể tìm kiếm Thiên Chúa bằng những cách thế tự nhiên, Người còn sai Con Một đi vào lịch sử nhân loại, nhờ đó giải thoát nhân loại khỏi quyền lực của ác thần (x. AG 3a).
Qua mầu nhiệm nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa là vị “Thừa sai đầu tiên và lớn nhất của Chúa Cha” đã đến trần gian. Nhờ cuộc đời và sứ vụ công khai, nhất là cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Người, nhân loại được ánh sáng Tin mừng chiếu soi. Cũng trong mầu nhiệm Khổ nạn và Phục sinh, Đức Kitô như là Ađam mới, là đầu của nhân loại mới, đã ban Chúa Thánh Thần cho Hội thánh, để Hội thánh trở thành thân thể sống động của Người, và lãnh nhận ơn gọi thừa sai, đi loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo (x. AG 3b). Trước khi về trời, Đức Kitô đã truyền cho các môn đệ, những kẻ được Người tuyển chọn và dạy dỗ, những kẻ thừa hưởng gia nghiệp và sứ mạng của Người rằng, anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ và làm cho muôn dân trở thành môn đệ (x. Mt 28,19-20). Đây có thể được coi là điểm cốt yếu của lệnh truyền sứ vụ, của ơn gọi thừa sai trong Hội thánh và là căn tính cốt lõi của Hội thánh. Nếu Hội thánh không thi hành ơn gọi thừa sai, tức là phủ nhận bản chất của mình.
c) Sứ mệnh của Chúa Thánh Thần
Hơn ai hết, Thánh Thần là tác nhân tất yếu trong ơn gọi thừa sai của Hội thánh. Chính Ngài soi sáng, dẫn dắt, và định hướng cho các hoạt động của Hội thánh theo kế hoạch của Thiên Chúa Ba Ngôi. Sắc lệnh Ad Gentes khẳng định rằng, Chúa Thánh Thần là nhân tố thiết yếu giúp Hội thánh chu toàn ơn gọi thừa sai của mình. Quả vậy, để Hội thánh có thể hoàn thành ơn gọi thừa sai của mình, Chúa Kitô đã sai Chúa Thánh Thần đến từ Chúa Cha để thực hiện chương trình cứu độ nơi các tâm hồn và giúp Hội thánh phát triển luôn mãi. Tuy nhiên, chúng ta phải chân nhận, Chúa Thánh Thần đã hoạt động trong hoàn vũ trước cả khi Chúa Kitô được vinh hiển. Vì vậy, Giáo hội xác tín rằng, rất thường khi, Chúa Thánh Thần đã đi trước, dọn đường cho các thừa sai đến loan báo Tin mừng cứu độ. “Đôi khi Chúa Thánh Thần lại can thiệp một cách hữu hình trước hoạt động truyền giáo, cũng như không ngừng dùng những phương thế khác nhau để theo sát và hướng dẫn vậy” (AG 4).
Hơn nữa, Hiến chế Gaudium et Spes cũng nhìn nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi các dân tộc như là sự hiện diện của hạt giống Lời cả trong các nền văn hóa và các tôn giáo khác, nhờ đó giúp nhân loại khả thể quy hướng về chân lý tuyệt đối là Thiên Chúa. Bởi vì trong ý định của Thiên Chúa, chỉ có một kế hoạch cứu độ nhân loại, như thế, sứ mạng của Chúa Thánh Thần cũng tương tự sứ mạng của Chúa Con.
Khi thi hành ơn gọi thừa sai, Hội thánh được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, đồng hành. Chính Chúa Thánh Thần thúc đẩy các vị thừa sai sống chứng tá để mở rộng ơn cứu độ đã được hoàn thành nơi Đức Kitô. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần chính là Đấng khởi xướng ơn gọi thừa sai của các tông đồ và của Hội thánh. Sắc lệnh Ad Gentes quả quyết: “Qua mọi thời đại, Chúa Thánh Thần hợp nhất toàn thể Giáo hội trong mối hiệp thông và thừa hành, ban phát các ơn phẩm trật và đặc sủng khác nhau, như là linh hồn làm sống động những định chế trong Giáo hội và đổ dần vào lòng các tín hữu cũngmột tinh thần truyền giáo đã thúc đẩy chính Chúa Kitô.” (AG 4)
2. Sứ mệnh của Giáo hội
Vì liên kết mật thiết với Chúa Kitô, Giáo hội đón nhận ơn gọi thừa sai từ Đấng là trung gian và trung tâm kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Khi đã hoàn tất mầu nhiệm cứu độ nhân loại và canh tân vũ trụ, Chúa Kitô được trao toàn quyền trên trời dưới đất, nên trước khi về trời, Người đã thiết lập Giáo hội làm bí tích cứu độ, và sai các tông đồ, là mầm mống của Israel mới, nguồn gốc của hàng giáo phẩm, đi khắp thế gian loan báo Tin mừng cứu độ như chính Người đã thi hành ý muốn của Chúa Cha (x. AG 5).
Từ góc nhìn này, Công đồng xác quyết, Giáo hội là một dân lữ hành đang tiến về cánh chung. Và vì ơn cứu độ có tính phổ quát, nên ơn gọi thừa sai của Giáo hội không chỉ giới hạn vào việc rao giảng Tin mừng cho “con cái trong nhà” nhưng mở ra tới muôn dân tộc. Điều này bao gồm cả sứ mạng bác ái với người nghèo, và đối thoại với các tôn giáo và các nền văn hóa khác.
Nhưng trước hết, Giáo hội xác định chủ thể thi hành ơn gọi thừa sai. Hiến chế Lumen Gentium đã xác định và điều chỉnh quan niệm về cơ cấu phẩm trật, sứ vụ và ơn gọi của mọi thành phần dân Chúa. Trong đó, khi nói về ơn gọi và sứ mạng, ơn gọi thừa sai được ưu tiên đưa lên hàng đầu, và trước tiên thuộc về các giám mục, những vị đón nhận sứ mạng từ Chúa Kitô, trong tư cách là người kế vị các thánh Tông đồ. Quả vậy, Hiến chế khẳng định, nhiệm vụ loan báo Tin mừng là bổn phận mà Chúa Kitô đã ra lệnh và trao phó trước tiên cho các giám mục. Vì thế các đức giám mục, trong quyền hạn và trách nhiệm riêng của mình, phải cùng nhau cộng tác với đấng kế vị thánh Phêrô để chu toàn nhiệm vụ này (x. LG 23).
Cũng vậy, Sắc lệnh Ad Gentes đã lặp lại ý tưởng trên và nói thêm rằng, các giám mục có nhiệm vụ khuyến khích trong giáo phận của mình những tâm hồn quảng đại dâng lời cầu nguyện cho sứ mạng đến với muôn dân, cho ơn gọi thừa sai, khích lệ người trẻ gia nhập các tổ chức truyền giáo; khuyến khích và giúp đỡ các hội dòng trong giáo phận góp phần vào việc truyền giáo (x. AG 38).
Bên cạnh đó, Sắc lệnh liệt kê các thành phần dân Chúa, tất cả đều được sai đi, theo ơn gọi riêng, tham gia sứ mạng thừa sai của Giáo hội. Trong đó, sau các giám mục là các linh mục và phó tế, những người cộng tác trực tiếp với giám mục trong sứ vụ rao giảng và cử hành bí tích. Các tu sĩ nam nữ và giáo dân là những thành phần sống chứng tá Tin mừng giữa đời, dấn thân trong môi trường xã hội, văn hóa, đối thoại và phục vụ. Nói cách khác, tất cả mọi thành phần của dân Thiên Chúa, những người đã tin vào Chúa Kitô và lãnh Bí tích Rửa tội, đều được mời gọi tham dự vào ơn gọi thừa sai theo mức độ, khả năng, và hoàn cảnh sống của họ (x. LG 31.33.).
3. Nguyên tắc của nhiệm cục cứu độ
Một thời gian dài, Giáo hội đã hiểu một cách giới hạn rằng, ơn cứu độ chỉ dành cho một dân được tuyển chọn. Điều đó được lưu truyền qua một mệnh đề và cách hiểu không chính xác, “extra Ecclesiam nulla salus”. Tuy nhiên, ơn cứu độ của Thiên Chúa thực hiện nơi Đức Kitô không thể bị giới hạn bởi bất cứ ranh giới hay quyền bính thế gian nào. Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho tất cả những ai thành tâm thiện chí, muốn đón nhận hiệu quả của mầu nhiệm Phục sinh ban ơn cứu độ của Đức Kitô. Quả vậy, Công đồng xác định, vì Chúa Kitô chết cho tất cả mọi người cho nên chúng ta tin chắc rằng, Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa (x. LG 22).
Cũng vậy, Sắc lệnh Ad Gentes tiếp tục khẳng định chân lý này rằng, Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý (x. AG 7). Điều này trở thành cơ sở nền tảng cho hoạt động truyền giáo phổ quát của Giáo hội. Nghĩa là, không ai có thể bị loại ra khỏi tác động của ơn cứu độ, và vì vậy, mọi chi thể của Đức Kitô phải không ngừng loan báo Tin mừng của Người.
Từ viễn cảnh của mầu nhiệm Khổ nạn và Phục sinh ban ơn cứu độ, Giáo hội cũng khẳng định rằng, Đức Kitô chính là trung tâm của ơn cứu độ và là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại. Thật vậy, sứ mạng của Giáo hội đã được thực hiện trong Chúa Kitô, Đấng đã đến mang Tin mừng cho kẻ nghèo hèn, giải thoát cho những ai bị giam cầm, cho người mù được sáng mắt và sự tự do cho người bị áp bức (x. AG 3). Chỉ nơi Người, mặc khải về ơn cứu độ của Thiên Chúa mới đầy đủ và viên mãn.
4. Mục tiêu của ơn gọi thừa sai
Công đồng Vaticanô II khẳng định ơn gọi thừa sai trước hết nhắm đến những người chưa nhận biết Chúa Kitô, giúp họ đón nhận Tin mừng, tin vào Chúa Kitô và gia nhập Giáo hội. Sau đó, một khi đã thăng tiến trên đường đức tin, họ tiếp tục thi hành sứ mạng thừa sai với những người xung quanh. Quả thế, Sắc lệnh Ad Gentes nói, việc truyền giáo trước hết là rao giảng Tin mừng và trồng Giáo hội vào các dân tộc cũng như nơi những người chưa tin Chúa Kitô. “Trong hoạt động truyền giáo của Giáo hội, có nhiều giai đoạn đôi khi hoà lẫn vào nhau: trước hết là giai đoạn khởi công hay gieo trồng, sau đó là giai đoạn mới mẻ trẻ trung. Tuy nhiên, khi đã trải qua các giai đoạn đó rồi, hoạt động truyền giáo của Giáo hội vẫn không ngưng trệ: các giáo đoàn địa phương đã được thiết lập có nhiệm vụ tiếp tục hoạt động truyền giáo và rao giảng Phúc âm cho mọi người còn ở ngoài Giáo hội” (AG 6).
Bên cạnh đó, còn có những hoàn cảnh đặc biệt và mới mẻ khác nhau, mà chính Giáo hội phải cân nhắc xem cần phải làm gì và làm như thế nào để dọn đường cho Chúa Kitô và làm cho sự hiện diện của Người ngày càng rõ nét hơn theo những cách thức khác nhau. Cảnh huống cụ thể trước hết là loan báo Tin mừng Đức Kitô cho những người chưa nhận biết Chúa, tức là rao giảng Tin mừng cách minh nhiên, kêu gọi tin nhận và lãnh Bí tích Rửa tội. Kế đến, là làm chứng bằng đời sống. Giáo hội hiện diện và thực thi ơn gọi của mình giữa lòng thế giới qua bác ái, công lý, phục vụ con người. Tiếp đến là việc đối thoại với các nền văn hóa nhằm tôn trọng, thanh luyện và kiện toàn các giá trị của tôn giáo và văn hóa nơi các dân tộc. Trên tất cả nhằm quy tụ nhân loại trong Đức Kitô, làm vinh danh Thiên Chúa, và đưa Nước Thiên Chúa đến sự viên mãn cánh chung.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA THẦN HỌC THỪA SAI SAU CÔNG ĐỒNG
Các văn kiện của Giáo hội sau Vaticanô II đều ảnh hưởng rất nhiều từ nền thần học của Công đồng. Chẳng hạn, Tông huấn Evangelii Nuntiandi (1975) đã có tới gần 10 lần tham chiếu Hiến chế Lumen Gentium, và hơn 10 lần tham chiếu Sắc lệnh Ad Gentes. Đức Phaolô VI đã nói cách xác quyết trong Tông huấn Loan báo Tin mừng rằng, “Trong hoạt động Phúc âm hóa của Giáo hội, chắc chắn có nhiều yếu tố và nhiều khía cạnh cần chú ý đến…. Ta vui mừng vì những yếu tố đó tự căn bản vẫn nằm trong chiều hướng của những gì mà Công đồng Vaticanô II đã truyền lại cho chúng ta, nhất là trong Hiến chế Lumen Gentium, Gaudium et Spes và trong Sắc lệnh Ad Gentes” (EN 17).
Cũng vậy, sau này, khi mừng kỷ niệm 25 năm ban hành Sắc lệnh Ad Gentes (1990), trong Thông điệp Redemptoris Missio (Sứ vụ Đấng Cứu Thế), Đức Gioan Phaolô II cũng đã rất nhiều lần tham chiếu Công đồng Vaticanô II, chỉ riêng Ad Gentes đã trên 50 lần. Điều đó cho thấy giá trị và tầm ảnh hưởng của thần học về ơn gọi thừa sai của Công đồng Vaticanô II rất lớn.
1. Giáo hội hiểu rõ hơn về chính mình
Với Ad Gentes, ơn gọi thừa sai thuộc về bản tính của Giáo hội như cách Công đồng tuyên bố, “Giáo hội về phía mình là Giáo hội truyền giáo” (AG 2). Đây là một tư duy mới: thay vì ơn gọi thừa sai chỉ là một cái gì đó “bổ sung” hay “thêm vào” cho một Giáo hội đã tồn tại, giờ đây, sứ mệnh “đến với muôn dân” trở thành một yếu tố mang tính bản chất, làm thành bản sắc cho chính Giáo hội. Nói cách khác, nếu không thi hành ơn gọi thừa sai, Giáo hội sẽ kém là mình hơn.
Cho đến Công đồng Vaticanô II, Giáo hội đã luôn tin rằng, mình được Thiên Chúa sai đến để công bố Tin mừng cứu độ cho các dân tộc. Điều này trước tiên dựa trên lệnh truyền của Đức Giêsu (x. Mc 16,15). Theo cách hiểu này, Giáo hội ý thức mình là trung gian, là người thừa hành, người đón nhận ơn gọi thừa sai, và do đó có trách nhiệm thực hiện sứ mạng ấy. Tuy nhiên, với Vaticanô II, Giáo hội đã xét lại quan niệm này, và bắt đầu ý thức rằng, ơn gọi thừa sai không chỉ là một mệnh lệnh đến từ Thiên Chúa, nhưng nằm trong chính bản chất của mình. Nói cách khác, với Vaticanô II, Giáo hội trình bày một nền thần học toàn diện về ơn gọi thừa sai dưới ánh sáng của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và đặc tính “giữa lòng thế giới”. Đây là một bước ngoặt lớn. Giáo hội giờ đây xác tín rằng, ơn gọi thừa sai không chỉ là hướng đến một công việc thực tiễn, mà còn là chính bản chất của Giáo hội, một chiều kích mang tính bản thể học.
Kế đến, Vaticanô II không chỉ tái khẳng định bản chất ơn gọi thừa sai của Giáo hội mà còn đóng góp vào sự đổi mới nền thần học về sứ mạng loan báo Tin mừng trong thế giới hiện đại. Trước hết, Công đồng đã đem đến một động lực mới để loan báo Tin mừng cứu độ của Đức Giêsu. Khi nhấn mạnh đến bản chất ơn gọi thừa sai, vốn tùy thuộc vào sứ vụ lệnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, Giáo hội tái khẳng định sứ mệnh loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo. Ngay sau công đồng, một làn gió mới đã thổi vào đời sống Hội thánh, giúp Giáo hội trở nên tương hợp hơn và có thể đối thoại với thế giới thay vì “chinh phục” như đã từng trong quá khứ.
Dẫu cho trong những năm đầu tiên sau Công đồng, đã có một vài phản ứng tiêu cực liên quan đến việc thi hành ơn gọi thừa sai, một số người đã bày tỏ sự nghi ngờ về hiệu lực của lệnh truyền hãy đi loan báo Tin mừng khắp thế gian (x. Mc 16,15), nhưng tiến triển thần học sau đó đã chứng mình rằng, nền thần học về ơn gọi thừa sai của Vaticanô II đã hoàn toàn đúng đắn, vì được hứng khởi bởi Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chính Chúa Thánh Thần sẽ dẫn dắt tiến trình này.
Nhiều năm sau đó, giáo huấn của các Đức Giáo hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II trong Evangelii Nuntiandi (1975) và Redemptoris Missio (1990) cho thấy một sự rõ ràng hơn: Truyền giảng Tin mừng luôn có tính cấp bách vì đó là phương thế loan báo Tin mừng cứu độ của Đức Giêsu. Tuy nhiên, Giáo hội không áp đặt Tin mừng lên bất cứ ai, mà trái lại, giới thiệu Tin mừng của Đức Kitô là Chân – Thiện – Mỹ, và là nguồn cội của ơn cứu độ. Công cuộc loan báo đó không chỉ bằng lời giảng, nhưng còn bằng chứng tá đời sống của chính con cái Giáo hội.
2. Thăng tiến sứ mạng của người giáo dân
Công đồng Vaticanô II đã quảng diễn thần học về tông đồ giáo dân khi khẳng định ơn gọi của người giáo dân bắt nguồn từ chính bản chất của họ vì được tham dự vào ba chức vụ của Chúa Kitô là Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế (x. LG 31). Như thế, ơn gọi và sứ mạng ấy thuộc về tất cả những ai đã được rửa tội. Điều này mời gọi và thúc đẩy người giáo dân tham gia tích cực hơn vào ơn gọi thừa sai bằng chính đời sống chứng tá của họ.
Sau Hiến chế Lumen Gentium (1964), lần đầu tiên trong Giáo hội, một sắc lệnh được ban hành để nói về ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân giữa lòng thế giới, Apostolicam Actuositatem (18/11/1965). Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân được hình thành gần như song song với sắc lệnh về Nhiệm vụ truyền giáo trong Giáo hội, Ad Gentes (7/12/1965). Sắc lệnh Ad Gentes xác quyết rằng, ơn gọi thừa sai của Giáo hội không thể thiếu sự đóng góp của giáo dân (x. AG 41). Việc tham gia vào sứ mạng loan báo Tin mừng cũng chính là cách thức để người giáo dân chu toàn ơn gọi Kitô hữu của mình. Cũng từ đây, nhiều phong trào, hiệp hội giáo dân được hình thành hầu tái khám phá con đường nên thánh của mình, qua việc sống và làm chứng như là phương thức thi hành ơn gọi thừa sai.
Sau này, Tông huấn Người Kitô hữu Giáo dân (Christifideles Laici, 1988) của Đức Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh hơn và triển khai một cách cụ thể vai trò của giáo dân trong gia đình, trong xã hội, và trong việc thi hành ơn gọi thừa sai giữa một xã hội tục hóa. Với những suy tư này, nhiều thừa tác vụ được trao cho giáo dân, nhờ đó, Giáo hội ngày càng trở thành dấu chỉ sắc nét hơn về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa lòng thế giới.
3. Thay đổi mô hình truyền giáo
Trước Công đồng Vaticanô II, Giáo hội thi hành ơn gọi thừa sai như một nhiệm vụ cụ thể, từ vị thế cấp có thẩm quyền. Tuy nhiên, sau Vaticanô II, việc truyền giáo được xem như bản chất nền tảng của Giáo hội. Đây là một Giáo hội vốn dĩ được kêu gọi để loan báo Tin mừng và trở thành dấu chỉ hữu hình của ân sủng Thiên Chúa trên thế giới. Nói cách khác, Công đồng Vaticanô II đã làm một cuộc chuyển đổi thần học thừa sai từ mô hình “chinh phục” sang mô hình “đối thoại,” “chứng tá” và “hội nhập.” Nền thần học này đã trở thành nền tảng căn bản có ảnh hưởng đáng kể đến các tài liệu sau Công đồng như Evangelii Nuntiandi (1975) của Đức Phaolô VI, và Redemptoris Missio (1990) của Đức Gioan Phaolô II.
Trước đây, thần học về ơn gọi thừa sai phần lớn mang tâm thức đem Kitô giáo đến áp đặt vào các xứ bản địa xa xôi; nghĩa là, dù vô tình hay hữu ý, có một mối tương quan hữu cơ giữa việc loan báo Tin mừng và việc xâm chiếm thuộc địa. Sứ mạng thừa sai thời kỳ này mang nặng sự chồng lấn của quyền lực chính trị, văn hoá và kinh tế của các cường quốc đối với các xứ thuộc địa nghèo.
Điều này đã từng bị chỉ trích bởi một số nhà truyền giáo có cái nhìn tiên tri như Bartolomé de las Casas, người Tây Ban Nha (thế kỷ XVI). Gần chúng ta hơn có nhà hoạt động Mahatma Gandhi, người Ấn Độ (thế kỷ XX), đã công khai lên tiếng phê bình sứ mạng loan báo Tin mừng đi liền với chủ nghĩa thực dân. Ông coi đó là một phần của chính sách xâm lấn văn hóa và chính trị.
Tư duy về sứ mạng loan báo Tin mừng trước và sau Công đồng Vaticanô II bắt đầu có những chuyển biến. Đang khi các Giáo hội châu Âu, trong mức độ có thể, vẫn tiếp tục gửi các thừa sai đến các xứ truyền giáo, tuy nhiên, từ đây cũng dần phát triển quan điểm ủng hộ sự thăng tiến và độc lập của Giáo hội địa phương, đang khi vẫn tôn trọng tính phổ quát và hiệp thông của Giáo hội. Chính điều này đã thúc đẩy các Giáo hội địa phương, sau khi đã được Tin mừng hóa, thì trở thành chủ thể của việc truyền giáo. Điều ấy thể hiện qua sứ vụ của các Giáo hội trẻ tại châu Á, châu Phi, và châu Mỹ Latinh. Nói cách khác, tư duy truyền giáo này đã thúc đẩy các Giáo hội địa phương không dừng lại trong vai trò là đối tượng của việc truyền giáo, mà tự mình trở thành chủ thể của công việc này.
4. Tinh thần Phúc âm hóa đa dạng
a) Hội nhập văn hóa
Lịch sử truyền giáo ghi lại việc Giáo hội đem Tin mừng đến với các xứ sở xa xôi. Cùng với việc công bố Tin mừng cứu độ, Giáo hội cũng đem đến cho các Giáo hội bản địa nền văn minh Kitô giáo. Tuy nhiên, kể từ Vaticanô II, Giáo hội đã đưa ra một tầm nhìn rộng hơn về sứ mệnh đến với muôn dân. Nếu trước đây, sứ mệnh chủ yếu liên quan đến việc đưa người “ngoại đạo” vào Giáo hội, tức là cố gắng để “rửa tội cho họ”, thì sau Vaticanô II, sứ mệnh được thể hiện qua nhiều cách thức khác nhau, trong đó có bao gồm cả việc làm chứng cho đời sống đức tin Kitô giáo, đối thoại với các tôn giáo khác, và hội nhập vào các nền văn hóa khi chân nhận rằng, nơi các nền văn hóa, đã tồn tại những giá trị chân thật. Nơi đó, hạt giống chân lý đã được Chúa Thánh Thần gieo vãi ngay cả trước khi có sự hiện diện của các thừa sai. Vì vậy, Công đồng khẳng định cần phải biết rút ra và tận dụng những giá trị thiện hảo vốn đã tồn tại trong các nền văn hóa để làm vinh danh Thiên Chúa. Công đồng nói về sứ mạng của các cộng đoàn Giáo hội mới được thiết lập nơi các nền văn hóa bản địa, “Các Giáo hội đó phải rút ra từ những tập quán và truyền thống, từ lẽ khôn ngoan và nền đạo lý, từ những nghệ thuật và khoa học của dân tộc mình, tất cả những gì có thể góp phần vào việc tuyên xưng vinh quang của Tạo Hóa, làm rạng ngời ân sủng của Đấng Cứu Chuộc và vào việc tổ chức tốt đẹp đời sống Kitô hữu” (AG 22).
Từ sau Công đồng Vaticanô II, thuật ngữ hội nhập văn hóa (inculturation) được hình thành. Đây chính là một điểm nhấn thần học về truyền giáo thúc đẩy phát triển sau này. Bên cạnh việc vun trồng Giáo hội trong những vùng miền, những khu vực vốn chưa thấm nhuần niềm tin Kitô giáo, hoặc thiếu di sản Kitô giáo mạnh mẽ, Giáo hội còn tìm cách hội nhập vào chính nền văn hóa đó, để xây dựng nên các Giáo hội bản địa.
Hơn nữa, với tầm nhìn của Công đồng Vaticanô II, trong Giáo hội còn hình thành nên mối tương quan giữa các Giáo hội địa phương, mối liên hệ giữa các dân tộc, và cũng từ đây hình thành nên thuật ngữ inter gentes. Sứ mạng này nhấn mạnh đến việc đối thoại và hợp tác giữa các Giáo hội địa phương, và nhất là giữa các tôn giáo, tôn trọng sự khác biệt giữa các tôn giáo khác nhau.
Việc truyền giáo, theo cái nhìn mới của Ad Gentes, không chỉ hướng đến “ơn cứu độ các linh hồn” qua việc giảng dạy sự hoán cải, mà là thông phần vào đời sống chứng nhân, tham gia phát triển xã hội, thăng tiến đời sống con người và củng cố sự công bằng xã hội (x. AG 12). Những yếu tố này cũng có thể tìm thấy nơi các tài liệu sau Công đồng như Evangelii Nuntiandi, Redemptoris Missio, và Evangelii Gaudium.
b) Đối thoại Liên tôn và Đại kết
Vaticanô II cũng đã đặt đặt nền tảng cho sứ mạng Ad Gentes qua việc gặp gỡ, chia sẻ và nói chuyện thay vì thi hành một mệnh lệnh. Giáo hội sau Công đồng đã xác định, việc gặp gỡ và hợp tác với các tôn giáo khác là cần thiết để phục vụ nhân loại nói chung và làm chứng cho các giá trị Tin mừng. Ngay trong thời gian Công đồng đang diễn ra, Đức Phaolô VI đã công bố Thông điệp Ecclesiam Suam (1964) nhằm kêu gọi Giáo hội đào sâu sự nhận thức về bản thân, từ đó hướng đến việc canh tân và thúc đẩy cuộc đối thoại với thế giới đương đại một cách hiệu quả hơn. Cũng chính trong thông điệp này, Đức Thánh cha Phaolô VI còn biểu lộ lòng ao ước của Giáo hội muốn đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, một cuộc đối thoại chân thành và thẳng thắn, không áp đặt.
Quả thế, khi tuyên bố về tương quan của Giáo hội với những người thuộc các tôn giáo khác, mà trước tiên phải kể đến Do thái giáo và Hồi giáo, Giáo hội khẳng định ngay cả khi chưa lãnh Bí tích Rửa tội, họ cũng có thể thuộc về dân Thiên Chúa. Kể cả những ai chưa lãnh nhận Phúc âm cũng được an bài bằng nhiều cách để thuộc về Dân Thiên Chúa. Công đồng còn đi xa hơn khi khẳng định, kể cả những người dù vô tình hay cố ý, nhưng không do lỗi của họ, chưa đón nhận Tin mừng, đang thành tâm tìm kiếm sự thật, cũng được Thiên Chúa an bài cho những phương tiện cứu độ. “Những kẻ đang tìm kiếm Thiên Chúa trong bóng tối và qua ngẫu tượng… những kẻ vô tình không nhận biết Phúc âm của Chúa Kitô và Giáo hội Người… Cả những kẻ vô tình chưa nhận biết Thiên Chúa cách rõ ràng, nhưng nhờ ơn Chúa, cố gắng sống đời chính trực, thì Chúa Quan Phòng không từ chối ban ơn trợ lực cần thiết để họ được cứu rỗi” (LG 16). Đây chính là giáo thuyết sẽ được quảng diễn chi tiết hơn trong Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate, 1965).
Tuyên ngôn Nostra Aetate được công bố cũng nhằm phản ứng lại hai thái cực đang hình thành trong con người thời đại và ngay cả giữa các tín hữu. Hoặc là cho rằng, các tôn giáo ngoài Kitô giáo là đối lập với Kitô giáo nên phải bài bác, chỉ nơi Kitô giáo mới thực sự có ơn cứu độ. Trái lại, cũng có quan điểm cho rằng, mọi tôn giáo đều là những con đường cứu rỗi, tôn giáo nào cũng có thể đưa người ta đến với ơn giải thoát.[2] Qua tuyên ngôn này, Giáo hội khẳng định, tất cả các dân tộc đều thuộc về một cộng đoàn nhân loại duy nhất (x. NA 1). Giáo hội nhìn nhận những giá trị luân lý, những giá trị nhân văn nơi các tôn giáo khác. Tuy nhiên, khi khẳng định sự tôn trọng đối với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, và ước ao thiết lập những tương quan huynh đệ như thế, Giáo hội không phủ nhận ơn gọi thừa sai tự bản chất của mình, là loan báo Chúa Kitô, nguồn cứu rỗi chân thật, cho tất cả mọi người (x. NA 2). Vì vậy, nhớ lại mệnh lệnh của Chúa Kitô trước khi Người về trời, Giáo hội luôn tận tâm lo lắng và cổ võ việc loan báo Tin mừng cho muôn dân tộc (x. LG, 16).
KẾT LUẬN
Trở lại với câu hỏi căn bản, ơn gọi thừa sai của Giáo hội là gì, bắt nguồn từ đâu, và tại sao phải thi hành mệnh lệnh ấy? Có lẽ chúng ta chỉ có thể trả lời một cách bao quát và chính xác nhất bằng câu nói, “chân lý sẽ giải thoát chúng ta” (Ga 8,32). Chỉ nơi Đức Giêsu, là Chân lý, là Đường và là Sự sống, chúng ta đón nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa, được giao hòa với Chúa Cha. Vì thế, ý thức được mệnh lệnh đón nhận từ nơi Chúa, ý thức về bản chất ơn gọi thừa sai của mình, Giáo hội không ngừng, qua bao thế kỷ, tận tâm đến với muôn dân, loan báo Tin mừng cứu độ của Thiên Chúa, được thực hiện nơi Đức Kitô.
Công đồng Vaticanô II không thuần túy là một Công đồng về mục vụ, nhưng còn trình bày một bước tiến triển về ơn gọi thừa sai, sứ mạng đến với muôn dân. Kể từ đây, sứ mạng thừa sai của Giáo hội không đặt trọng tâm ở một số ít các nhà truyền giáo, nhưng nơi toàn thể Giáo hội. Trong thực tế, Công đồng Vaticanô II đã khơi dậy sự nhiệt tình với ơn gọi thừa sai trong tất cả cộng đồng dân Chúa, tạo ra vô số hoạt động và nỗ lực truyền giáo trong Giáo hội hoàn vũ.
Nếu Hiến chế Ánh sáng Muôn dân đã khởi xướng điểm căn bản của ơn gọi thừa sai (x. LG 16), thì Sắc lệnh Đến với Muôn dân đã khai triển nền thần học về ơn gọi thừa sai chi tiết và đầy đủ. Cùng với Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân và các văn kiện khác, Công đồng Vaticanô II đã đặt nền tảng cho sự phát triển của thần học truyền giáo hiện đại. Theo đó, ơn gọi thừa sai không chỉ là một hoạt động mà là bản chất của Giáo hội. Ơn gọi thừa sai phát sinh từ Thiên Chúa Ba Ngôi, được chính Chúa Kitô quảng diễn và lệnh truyền sứ vụ, sau đó được Giáo hội hăng say thực hiện nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.
Quả vậy, từ Ad Gentes, Công đồng Vaticanô II đã khẳng định rõ ràng hơn: Giáo hội tự bản chất mang ơn gọi thừa sai, và do đó, tất cả các thành phần của cộng đoàn dân Thiên Chúa đều tham dự vào ơn gọi này nhờ Bí tích Rửa tội. Khi thi hành ơn gọi này trong những cảnh huống của thời cuộc, mọi thành phần dân Chúa đều chung tay loan báo Tin mừng qua lời nói, bằng gương mẫu đời sống, bằng việc làm chứng khi sống đức tin của mình một cách công khai. Như thế, Giáo hội thực sự là chính mình khi cam kết sống ơn gọi thừa sai cách chân thành và do đó lan truyền Lời sự thật đến tận cùng thế giới (x. AG 1).
Mở ra với thế giới
Phải nhìn nhận rằng, ơn gọi thừa sai của Giáo hội đang trải qua giai đoạn khẩn thiết hơn bao giờ. Như đã nói, có người cho rằng, thời kỳ truyền giáo của Giáo hội đã đến hồi kết, nhưng cũng có người quy kết rằng, Công đồng Vaticanô II đã làm phai nhạt lòng hăng say và nhiệt thành của ơn gọi thừa sai khi mở ra đối thoại với các tôn giáo khác, và khi tuyên bố về quyền tự do tôn giáo.
Tuy nhiên, phải nhìn nhận, kể từ Vaticanô II, thần học truyền giáo đã được canh tân. Theo quan niệm cổ truyền, mục đích duy nhất của việc truyền giáo là cứu con người khỏi chết đời đời, và Giáo hội được coi là phương tiện duy nhất để được cứu độ. Tuy nhiên, Vaticanô II đã khẳng định, ngoài Giáo hội hữu hình, những người thành tâm thiện chí cũng có thể được cứu độ, theo những cách thức mà chỉ có Thiên Chúa biết. Vậy, tại sao lại phải truyền giáo? Thưa, vì đó là sứ mạng, là ơn gọi xuất phát tự bản chất của Giáo hội, và đó cũng là lệnh truyền của Chúa Kitô trước khi Người về trời. Sau này, khi kỷ niệm 25 năm ban hành Sắc lệnh Ad Gentes, Đức Gioan Phaolô II đã công bố Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu thế (Redemptoris Missio, 1990). Trong đó, ngài tái khẳng định vai trò trung gian cứu độ duy nhất của Chúa Kitô. Bên cạnh đó, ngài cũng nêu ra một vài khuynh hướng lệch lạc, một vài quan niệm có thể gây nguy hiểm cho ơn gọi thừa sai, chẳng hạn thuyết tương đồng (indifferentism), thuyết chiêu mộ (proselytism), hay chủ trương thay thế việc rao giảng Tin mừng bằng việc đối thoại liên tôn. Tuy nhiên, chúng ta nhớ lại, chính trong Tuyên ngôn Nostra Aetate (1965), Giáo hội đã khẳng định, việc đối thoại liên tôn không mâu thuẫn với sứ vụ Ad Gentes. Về điều này, chúng ta có thể tìm hiểu rõ hơn trong Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu thế (Redemptoris Missio, 1990) của Đức Gioan Phaolô II.
Bên cạnh đó, ơn gọi thừa sai, hay sứ mạng loan báo Tin mừng, hoặc sứ vụ truyền giáo của Giáo hội còn được mở rộng bởi những suy tư thần học khác nữa mà trong giới hạn của bài này, chúng ta không bàn đến, đó là việc Hội nhập văn hóa (inculturation) và Tân Phúc âm hóa (new Evangelization). Những suy tư thuộc lãnh vực này sẽ tiếp tục mở rộng ơn gọi thừa sai của Công đồng Vaticanô II. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, những thuật ngữ chuyển tải nền thần học này được hình thành trong giai đoạn trước và sau Công đồng Vaticanô II và xuất hiện chính thức trong các văn kiện của Giáo hội ngay từ những năm đầu triều đại giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II.
Tác giả: Lm. Giuse Đinh Tiến Hưng, O.P.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 151 (Tháng 01 & 02 năm 2026)
——————
Sách tham khảo
– Công đồng Vaticancô II, bản dịch của Giáo hoàng Học viện Piô X, Đà Lạt, 1972.
– Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, 1975.
– Gioan Phaolô II, Redemptoris Missio, 1990.
– Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia, 1999.
– Cardinal Avery Christian Dulles, SJ., Evangelization for the Third Millennium, Paulist Press, New Jersey, 2009.
– Peter C. Phan, Mission and Catechesis: Alexander De Rhodes and Inculturation in Seventeenth-century Vietnam, Orbis Books, New York, 2006.
– Peter C. Phan, In Our Own Tongues: Perspectives from Asia on Mission and Inculturation, Orbis Books, New York, 2003.
– George Weigel, To Sanctify the World: The Vital Legacy of Vatican II, Basic Books, New York, 2022.
– Stephen B. Bevans (ed.), A Century of Catholic Mission: Roman Catholic Missiology 1910 to the Present, Regnum Books International, 2015.
– Stephen B. Bevans, Ecclesiology since Vatican II: From a Church with a Mission to a Missionary Church, Verbum SVD, 2005.
– Stephen B. Bevans, Revisiting Mission at Vatican II: Theology and Practice for Today’s Missionary Church, Theological Studies, 2013.
[1] Ví dụ: Hợp Tuyển Thần Học (số 31, 2001) có loạt bài nghiên cứu về đề tài Truyền Giáo học; hay một số bài viết trên các trang web của Hội đồng Giám mục Việt Nam, của Giáo phận Đà lạt…
[2] Những quan niệm mơ hồ và dễ gây hiểu lầm như: Đạo nào cũng giống đạo nào, đạo nào cũng ăn ngay ở lành; hay: Đạo tại tâm, do đó chủ trương không cần đến tôn giáo nào.

Có thể bạn quan tâm
Ơn Gọi Thừa Sai Theo Công Đồng Vaticanô Ii
Th5
Thanh Tuyển Viện và Bản Hòa Âm Mùa Hè
Th5
Thánh Lễ Gia Nhập và Cam Kết Lần Đầu của 47 thành viên..
Th5
Con Đường Giêsu – Lối Về Nhà Cha (Suy Niệm Tin Mừng Chúa..
Th5
Suy niệm Tháng Hoa: “Mẹ Maria – Mẫu Gương Người Môn Đệ Thừa..
Th5
Ngày ấy, Tôi đã lên đường…
Th4
Đức Thánh Cha: Công Giáo Và Anh Giáo Phải Vượt Qua Chia Rẽ..
Th4
Theo Chân Mục Tử Nhân Lành (Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Vi..
Th4
Hành Trình Hiệp Thông Ad Limina 2026 Của Hội Đồng Giám Mục Việt..
Th4
8 Lời Khuyên Từ Các Vị Thánh Để Mang Lại Bình An Cho..
Th4
Từ Emmau Đến Giêrusalem: Trái Tim Bừng Cháy (Suy Niệm Tin Mừng Chúa..
Th4
Hiệp Hành, Lối Sống Cho Dân Chúa Hôm Nay
Th4
Ad Limina Apostolorum – Ý Nghĩa Thần Học Và Linh Đạo
Th4
Hội dòng Mến Thánh Giá Vinh: Thông báo Tuyển Sinh Ơn Gọi năm..
Th4
Chuyến viếng thăm của Quý Chị trong Ban Điều Hành và Ban Nghiên..
Th4
Chương Trình Tông Du Của Đức Thánh Cha Lêô Đến 4 Nước Châu..
Th4
Bừng sáng Emmaus
Th4
Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Châu Phi: Người hành hương giữa “các..
Th4
Bổ Nhiệm Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Sài Gòn – Thành..
Th4
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa
Th4