DIỄN VĂN CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG LÊÔ XIV
DÀNH CHO CÁC THÀNH VIÊN CỦA NGOẠI GIAO ĐOÀN CẠNH TÒA THÁNH

NHÂN DỊP CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2026

Hội trường Benediction

Thứ Sáu, ngày 09 tháng 01 năm 2026

[Đa phương tiện]

Kính thưa Đức Hồng y,
Thưa quý Ngài Đại sứ,
Thưa quý thành viên Ngoại giao đoàn,
Thưa quý bà và quý ông,

Tôi xin chân thành cảm ơn ngài Đại sứ George Poulides, Trưởng Ngoại giao đoàn, về những lời ân cần và đầy kính trọng mà ngài thay mặt cho quý vị gửi đến tôi. Tôi vui mừng chào đón tất cả quý vị trong cuộc gặp gỡ trao đổi lời chúc mừng nhân dịp đầu năm mới này.

Đây là một sự kiện truyền thống trong đời sống của Ngoại giao đoàn cạnh Tòa thánh; nhưng với cá nhân tôi, đó là một trải nghiệm mới mẻ, bởi tôi mới được gọi để chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô vài tháng trước đây. Vì thế, tôi rất vui mừng được đón tiếp quý vị sáng nay, và tôi cảm ơn vì sự hiện diện quảng đại của quý vị, đặc biệt năm nay còn có thêm sự hiện diện của các vị Trưởng Cơ quan Đại diện Thường trú của Kazakhstan, Burundi và Belarus. Tôi cảm ơn các nhà chức trách chính phủ của quý vị đã quyết định mở Văn phòng Đại diện Ngoại giao cạnh Tòa thánh tại Roma. Đây là dấu chỉ cụ thể của những mối quan hệ song phương tốt đẹp và hiệu quả. Thông qua mỗi quý vị đại sứ ở đây, tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến đất nước của quý vị, đồng thời chia sẻ những suy tư về thời đại của chúng ta, một thời kỳ đang bị xáo trộn bởi sự gia tăng những căng thẳng và xung đột.

Năm vừa qua đã chứng kiến nhiều biến cố quan trọng, bắt đầu với những biến cố tác động trực tiếp đến đời sống Giáo hội, khi Giáo hội trải qua một Năm thánh sâu sắc, và cũng đã chứng kiến vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo hoàng Phanxicô, trở về Nhà Cha. Toàn thế giới đã quy tụ quanh linh cữu của ngài trong ngày lễ an táng, và cảm nhận sự mất mát một người cha đã dẫn dắt Dân Chúa với đức ái mục tử vô cùng lớn lao.

Vài ngày trước, chúng tôi đã đóng Cửa thánh cuối cùng, đó là Cửa thánh của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, được chính Đức Giáo hoàng Phanxicô mở ra vào đêm Giáng sinh năm 2024. Trong suốt Năm thánh, hàng triệu người hành hương đã đổ về Roma để thực hiện cuộc hành hương Năm thánh của mình. Mỗi người mang theo những kinh nghiệm, những câu hỏi và niềm vui, cũng như những nỗi đau và thương tổn của mình, để bước qua Cửa thánh, là biểu tượng của chính Chúa Kitô, vị lương y từ trời cao của chúng ta. Khi đến trong xác phàm, Người đã mặc lấy nhân tính của chúng ta để làm cho chúng ta được thông phần vào sự sống thần linh của Người, như chúng ta đã chiêm ngắm trong mầu nhiệm Giáng sinh vừa qua. Tôi tin tưởng rằng, qua những trải nghiệm ấy, nhiều người đã có thể đào sâu hoặc tìm lại mối tương quan với Chúa Giêsu, tìm thấy sự an ủi và niềm hy vọng mới để đối mặt với những thách đố trong cuộc sống.

Ở đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với người dân Roma đã đón tiếp những người hành hương và du khách từ khắp nơi trên thế giới với sự kiên nhẫn và lòng hiếu khách tuyệt vời. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Chính phủ Ý, Chính quyền thành phố Roma và các lực lượng cảnh sát, những người đã làm việc với lòng nhiệt thành và sự chính xác để bảo đảm rằng Roma có thể chào đón mọi du khách, và các sự kiện của Năm thánh cũng như các sự kiện sau khi Đức Giáo hoàng Phanxicô qua đời, được diễn ra trong an toàn và bình an.

Tòa thánh và nước Ý không chỉ chia sẻ sự gần gũi về mặt địa lý, mà trên hết là một lịch sử đức tin và văn hóa lâu đời, gắn kết Giáo hội với bán đảo xinh đẹp này và người dân của đất nước. Điều ấy cũng được phản ánh trong các mối quan hệ song phương tuyệt vời, được củng cố trong năm nay bằng việc các sửa đổi trong Thỏa thuận về Việc hỗ trợ Thiêng liêng cho các Lực lượng Vũ trang chính thức có hiệu lực, điều này cho phép sự đồng hành thiêng liêng hiệu quả hơn đối với những nam nữ quân nhân đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang tại Ý, và trong nhiều sứ mệnh ở nước ngoài. Tương tự, việc ký kết Thỏa thuận về nhà máy điện mặt trời – nông nghiệp (agrivoltaic) tại Santa Maria di Galeria, cho phép cung cấp điện cho Thành quốc Vatican bằng các nguồn năng lượng tái tạo, qua đó khẳng định cam kết chung của chúng ta trong việc chăm sóc công trình tạo dựng. Tôi cũng cảm ơn về các chuyến viếng thăm của các vị lãnh đạo cao cấp chính phủ dành cho tôi khi khởi đầu triều đại giáo hoàng, cũng như sự đón tiếp nồng hậu mà ngài Tổng thống Cộng hòa Ý dành cho tôi tại phủ Quirinale, tôi xin gửi đến ngài lời chào thân ái và trân trọng nhất.

Trong năm qua, khi nhận lời mời được gửi đến Đức Giáo hoàng Phanxicô, tôi đã có niềm vui được viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ và Li Băng. Tôi xin cảm ơn các nhà chức trách của cả hai quốc gia vì sự đón tiếp nồng hậu. Tại İznik, cùng với Đức Thượng Phụ Đại Kết Constantinople, và đại diện của các hệ phái Kitô giáo khác, tôi đã kỷ niệm 1700 năm Công đồng Đại kết đầu tiên. Đây là một cơ hội quan trọng để làm mới cam kết của chúng tôi trên hành trình hướng tới sự hiệp nhất hữu hình trọn vẹn của tất cả các Kitô hữu. Tại Li-băng, tôi đã gặp gỡ một dân tộc dù còn nhiều khó khăn nhưng tràn đầy đức tin và lòng nhiệt thành. Ở đó, tôi đã cảm nhận được niềm hy vọng của những người trẻ khao khát xây dựng một xã hội công bằng và gắn kết hơn, cũng như củng cố mối dây liên kết các văn hóa và tôn giáo, làm cho Đất nước của những cây Tuyết Tùng trở nên độc đáo trên thế giới.

Thưa quý vị Đại sứ,

Được thôi thúc bởi những biến cố bi thảm trong cuộc cướp phá thành Roma năm 410 sau Công nguyên, Thánh Augustinô đã viết tác phẩm De Civitate Dei (Thành đô của Thiên Chúa). Đây là một trong những tác phẩm thần học, triết học và văn chương mạnh mẽ nhất của Ngài. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhận định, đó là một “tác phẩm đồ sộ, có tính quyết định đối với sự phát triển tư tưởng chính trị phương Tây và thần học Kitô giáo về lịch sử”[1]. Tác phẩm này, như cách chúng ta nói theo ngôn ngữ đương đại, khai triển một “lối tường thuật” đang lan rộng thời bấy giờ, vì “những người ngoại giáo, khi đó vẫn còn rất đông, và thậm chí không ít Kitô hữu, đã nghĩ rằng Thiên Chúa của tôn giáo mới, và chính các tông đồ đã cho thấy họ không có khả năng bảo vệ thành đô. Trong thời kỳ của các thần ngoại giáo, Roma là caput mundi, thành đô vĩ đại, và không ai có thể tưởng tượng rằng nó lại rơi vào tay kẻ thù. Giờ đây, với Thiên Chúa của các Kitô hữu, thành đô vĩ đại ấy dường như không còn an toàn nữa”[2]. Chắc chắn, thời đại của chúng ta rất xa với những biến cố đó. Đây không đơn thuần là về khoảng cách thời gian, mà còn là sự khác biệt về nhận thức văn hóa và sự phát triển của các phạm trù tư tưởng. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua thực tế rằng chính những cảm thức văn hóa của chúng ta đã được nuôi dưỡng từ tác phẩm đó, một tác phẩm, giống như tất cả các tác phẩm kinh điển khác, luôn đối thoại với con người thuộc mọi thế hệ.

Thánh Augustinô giải thích các biến cố và lịch sử theo mô hình của hai thành đô. Thứ nhất là thành đô của Thiên Chúa, vốn mang tính vĩnh cửu và được đặc trưng bởi tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa (amor Dei), cũng như tình yêu đối với tha nhân, đặc biệt là người nghèo. Tiếp đến là thành đô của trần thế, là nơi cư ngụ tạm thời, nơi con người sinh sống cho đến khi chết. Trong thời đại chúng ta, thành đô này bao gồm tất cả các thể chế chính trị và xã hội, từ gia đình đến các quốc gia dân tộc và các tổ chức quốc tế. Đối với Thánh Augustinô, thành đô này được tiêu biểu nơi Đế quốc Roma. Thật vậy, thành đô thế gian tập trung vào lòng kiêu ngạo và yêu bản thân (amor sui), vào sự khao khát quyền lực và vinh quang trần thế dẫn đến hủy diệt. Tuy nhiên, đây không phải là một cách đọc lịch sử nhằm đối lập sự vĩnh cửu với hiện tại, Giáo hội với Nhà nước, cũng không phải là một phép biện chứng về vai trò của tôn giáo trong xã hội dân sự.

Theo quan điểm của Thánh Augustinô, hai thành đô này cùng tồn tại cho đến tận cùng thời gian. Mỗi thành đô đều có chiều kích bên ngoài và bên trong, vì chúng không chỉ được hiểu qua hình thức bên ngoài mà chúng được xây dựng trong dòng lịch sử, mà còn qua lăng kính của thái độ nội tâm của mỗi con người trước các thực tại của cuộc sống và các biến cố lịch sử. Trong viễn tượng ấy, mỗi người chúng ta đều là một chủ thể, và vì thế phải chịu trách nhiệm với lịch sử. Hơn nữa, Thánh Augustinô nhấn mạnh rằng các Kitô hữu được Thiên Chúa mời gọi cư ngụ trong thành đô trần thế với con tim và tâm trí hướng về thành đô trên trời, quê hương đích thực của họ. Đồng thời, các Kitô hữu sống trong thành đô trần thế không phải là những người xa lạ với thế giới chính trị, và dưới sự hướng dẫn của Kinh thánh, họ tìm cách áp dụng đạo đức Kitô giáo vào việc quản trị dân sự.

Tác phẩm Thành đô của Thiên Chúa không đề xuất một chương trình chính trị. Trái lại, nó đưa ra những suy tư quý giá về các vấn đề cơ bản liên quan đến đời sống chính trị và xã hội, chẳng hạn như việc tìm kiếm một sự chung sống công bằng và hòa bình hơn giữa các dân tộc. Thánh Augustinô cũng cảnh báo về những nguy cơ nghiêm trọng đối với đời sống chính trị nảy sinh từ những cách diễn giải sai lệch về lịch sử, từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, và sự bóp méo lý tưởng về người lãnh đạo chính trị.

Mặc dù bối cảnh chúng ta đang sống ngày nay khác với thế kỷ thứ V, nhưng một số điểm tương đồng vẫn còn mang tính thời sự sâu sắc. Chúng ta ngày nay, cũng như thời ấy, đang ở trong một kỷ nguyên của các phong trào di cư lan rộng; cũng như khi đó, chúng ta đang sống trong thời kỳ điều chỉnh sâu sắc những cân bằng địa chính trị và các phạm trù văn hóa; cũng như thời đó, như cách diễn đạt nổi tiếng của Đức Giáo hoàng Phanxicô, chúng ta không ở trong một kỷ nguyên của những thay đổi, mà ở trong một cuộc thay đổi kỷ nguyên.[3]

Trong thời đại của chúng ta, sự suy yếu của chủ nghĩa đa phương là một nguyên nhân đặc biệt đáng lo ngại trên bình diện quốc tế. Một nền ngoại giao thúc đẩy đối thoại và tìm kiếm sự đồng thuận giữa tất cả các bên đang bị thay thế bằng một nền ngoại giao dựa trên vũ lực của các cá nhân hoặc các nhóm đồng minh. Chiến tranh đang trở lại thành xu thế thời đại, và tính hiếu chiến đang lan rộng. Nguyên tắc được thiết lập sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, vốn cấm các quốc gia sử dụng vũ lực để xâm phạm biên giới của các quốc gia khác, đã hoàn toàn bị lung lay. Hòa bình không còn được tìm kiếm như một ân ban và một điều thiện hảo đáng mong ước, hoặc theo đuổi “việc thiết lập một vũ trụ có trật tự theo ý muốn của Thiên Chúa, với một hình thức công lý hoàn hảo hơn giữa người nam và người nữ”[4]. Thay vào đó, hòa bình được tìm kiếm qua vũ khí như một điều kiện để khẳng định quyền thống trị của mình. Điều này đe dọa nghiêm trọng đến pháp quyền, vốn là nền tảng của mọi sự chung sống hòa bình.

Hơn nữa, như Thánh Augustinô đã lưu ý, “không ai không mong muốn có hòa bình. Bởi ngay cả những kẻ gây chiến cũng không khao khát điều gì khác ngoài chiến thắng; nghĩa là, họ mong đạt tới hòa bình trong vinh quang. Vì chiến thắng là gì nếu không phải là việc khuất phục những kẻ chống lại chúng ta? Và khi điều này được thực hiện, sẽ có hòa bình… vì ngay cả những kẻ cố tình phá vỡ nền hòa bình mà họ đang sống cũng không hề thù ghét hòa bình, họ chỉ muốn thay đổi nó thành một nền hòa bình phù hợp với họ hơn. Do đó, họ không phải là không muốn có hòa bình, mà chỉ muốn có thứ hòa bình mà họ khao khát”[5].

Chính thái độ ấy đã dẫn nhân loại vào thảm kịch của Chiến tranh Thế giới thứ hai. Từ những đống tro tàn đó, Liên hợp quốc đã ra đời, tổ chức gần đây vừa kỷ niệm 80 năm thành lập. Liên hợp quốc được thành lập bởi quyết tâm của năm mươi mốt quốc gia như một trung tâm hợp tác đa phương nhằm ngăn ngừa những thảm họa toàn cầu trong tương lai, để bảo vệ hòa bình, bảo vệ các quyền căn bản của con người, và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Tôi muốn đặc biệt lưu ý đến tầm quan trọng của luật nhân đạo quốc tế. Việc tuân thủ luật này không thể chỉ phụ thuộc vào các hoàn cảnh hoặc những lợi ích quân sự và chiến lược. Luật nhân đạo, ngoài việc bảo đảm một mức độ nhân bản tối thiểu giữa những tàn phá của chiến tranh, còn là một cam kết mà các quốc gia đã đưa ra. Luật này phải luôn được đặt lên trên những tham vọng của các bên tham chiến, nhằm giảm thiểu những hậu quả tàn khốc của chiến tranh, kể cả việc hướng tới sự tái thiết. Chúng ta không thể làm ngơ trước thực tế rằng việc phá hủy các bệnh viện, cơ sở hạ tầng năng lượng, nhà ở và những nơi thiết yếu cho đời sống hàng ngày là sự vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế. Tòa thánh kiên quyết tái khẳng định sự lên án đối với bất kỳ hình thức nào lôi kéo thường dân vào các hoạt động quân sự. Đồng thời, Tòa thánh hy vọng cộng đồng quốc tế sẽ ghi nhớ rằng việc bảo vệ nguyên tắc bất khả xâm phạm của phẩm giá con người, và tính thánh thiêng của sự sống luôn có giá trị cao hơn bất kỳ lợi ích quốc gia thuần túy nào.

Với tinh thần đó, Liên hợp quốc đã làm trung gian cho các cuộc xung đột, thúc đẩy phát triển và giúp đỡ các Quốc gia bảo vệ quyền con người và các quyền tự do căn bản. Trong một thế giới đang đối mặt với những thách đố phức tạp như căng thẳng địa chính trị, bất bình đẳng và khủng hoảng khí hậu, Liên hợp quốc cần đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy đối thoại và hỗ trợ nhân đạo, giúp xây dựng một tương lai công bằng hơn. Do đó, cần có những nỗ lực để bảo đảm rằng Liên hợp quốc không chỉ phản ánh tình hình của thế giới ngày nay thay vì của thời kỳ hậu chiến, mà còn phải tập trung và trở nên hiệu quả hơn trong việc theo đuổi các chính sách nhằm xây dựng sự hiệp nhất của gia đình nhân loại thay vì các hệ tư tưởng.

Do đó, mục đích của chủ nghĩa đa phương là tạo ra một nơi để mọi người có thể gặp gỡ và trò chuyện, theo mô hình của Diễn đàn La Mã cổ đại hoặc quảng trường thời trung cổ. Đồng thời, để tham gia vào cuộc đối thoại, cần có sự đồng thuận về các ngôn từ và khái niệm được sử dụng. Việc tái khám phá ý nghĩa của các từ ngữ có lẽ là một trong những thách đố căn bản nhất của thời đại chúng ta. Khi ngôn từ mất đi mối liên hệ với thực tại, và chính thực tại trở nên đáng tranh cãi và cuối cùng là không thể truyền đạt, chúng ta sẽ trở nên giống như hai người mà Thánh Augustinô đã đề cập, những người bị buộc phải ở chung với nhau mà không ai biết ngôn ngữ của người kia. Ngài nhận xét rằng: “Những con vật không có tiếng nói, ngay cả khi chúng thuộc chủng loại khác nhau, còn hiểu nhau dễ dàng hơn hai cá nhân này. Bởi dù cả hai đều là con người, nhưng bản tính chung của họ không giúp ích gì cho sự thân thiện khi họ bị ngăn trở bởi sự khác biệt về ngôn ngữ trong việc truyền đạt cảm xúc cho nhau; đến mức con người thà trò chuyện với con chó của mình còn hơn là với một người ngoại quốc!”[6].

Ngày nay, ý nghĩa của các từ ngữ ngày càng trở nên biến thiên, và các khái niệm mà chúng đại diện ngày càng trở nên mơ hồ. Ngôn ngữ không còn là phương tiện ưu tiên để con người hiểu biết và gặp gỡ nhau. Hơn nữa, trong những méo mó của sự mơ hồ về ngữ nghĩa, ngôn ngữ đang ngày càng trở thành một vũ khí để lừa dối, hoặc để tấn công và xúc phạm đối phương. Một lần nữa, chúng ta cần những từ ngữ diễn đạt các thực tại riêng biệt và rõ ràng một cách chắc chắn. Chỉ bằng cách này, cuộc đối thoại đích thực mới có thể tái lập mà không có sự hiểu lầm. Điều này cần diễn ra trong gia đình và các không gian công cộng, trong chính trị, trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Điều đó cũng cần diễn ra trong bối cảnh những mối quan hệ quốc tế và chủ nghĩa đa phương, để chủ nghĩa đa phương có thể lấy lại sức mạnh cần thiết để thực hiện vai trò gặp gỡ và trung gian của mình. Việc này thực sự cần thiết nhằm ngăn ngừa các xung đột, và để bảo đảm rằng không ai bị cám dỗ tìm cách thống trị người khác bằng não trạng của vũ lực, dù là bằng lời nói, bằng thể lý hay quân sự.

Chúng ta cũng cần lưu ý đến nghịch lý là sự suy yếu của ngôn ngữ này thường được viện dẫn nhân danh quyền tự do ngôn luận. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ hơn, điều ngược lại mới đúng, vì tự do ngôn luận và diễn đạt được bảo đảm chính nhờ tính chắc chắn của ngôn ngữ, và mọi thuật ngữ đều được neo chặt trong sự thật. Thật đau lòng khi thấy không gian dành cho tự do ngôn luận đích thực đang nhanh chóng bị thu hẹp, đặc biệt là ở phương Tây. Đồng thời, một thứ ngôn ngữ kiểu Orwell đang phát triển, trong nỗ lực ngày càng trở nên bao gồm hơn, nhưng rốt cuộc là loại trừ những ai không tuân theo các hệ tư tưởng đang thúc đẩy nó.

Đáng tiếc, điều này lại dẫn đến những hệ quả khác, cuối cùng làm hạn chế các quyền con người căn bản, bắt đầu từ quyền tự do lương tâm. Về khía cạnh này, sự phản kháng theo lương tâm cho phép các cá nhân từ chối những nghĩa vụ pháp lý hoặc nghề nghiệp đi ngược lại với những nguyên tắc đạo đức, luân lý hoặc tôn giáo đã bám rễ sâu trong đời sống cá nhân của họ. Đó có thể là việc từ chối nghĩa vụ quân sự nhân danh bất bạo động, hoặc việc các bác sĩ và nhân viên y tế từ chối tham gia vào những việc thực hành như phá thai hoặc trợ tử. Phản kháng theo lương tâm không phải là sự nổi loạn, mà là một hành động trung thành với chính mình. Tại thời điểm này của lịch sử, tự do lương tâm dường như ngày càng bị các quốc gia đặt vấn đề, thậm chí cả những quốc gia tuyên bố được xây dựng trên nền tảng dân chủ và nhân quyền. Tuy nhiên, quyền tự do này thiết lập một sự cân bằng giữa lợi ích tập thể và phẩm giá cá nhân. Nó cũng nhấn mạnh rằng một xã hội thực sự tự do không áp đặt sự đồng nhất mà bảo vệ sự đa dạng của lương tâm, ngăn chặn các khuynh hướng độc đoán và thúc đẩy một cuộc đối thoại đạo đức làm phong phú cơ cấu xã hội.

Tương tự như vậy, tự do tôn giáo đang có nguy cơ bị thu hẹp. Như Đức Bênêđictô XVI đã nhắc nhở, đây là quyền đứng đầu trong tất cả các quyền con người, vì nó diễn tả thực tại căn bản nhất của con người[7]. Những dữ liệu gần đây nhất cho thấy các vi phạm quyền tự do tôn giáo đang gia tăng, và sáu mươi bốn phần trăm dân số thế giới đang phải chịu những vi phạm nghiêm trọng đối với quyền này.

Khi yêu cầu quyền tự do tôn giáo và thờ phượng của các Kitô hữu phải được tôn trọng đầy đủ, Tòa thánh cũng yêu cầu điều tương tự cho tất cả các cộng đồng tôn giáo khác. Nhân dịp kỷ niệm sáu mươi năm công bố Tuyên ngôn Nostra Aetate, một trong những hoa trái của Công đồng chung Vatican II kết thúc vào ngày 08 tháng 12 năm 1965, tôi đã có cơ hội nhắc lại việc kiên quyết bác bỏ mọi hình thức bài Do Thái, mà đáng buồn là nó vẫn tiếp tục gieo rắc hận thù và chết chóc. Đồng thời, tôi cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng cuộc đối thoại Do Thái giáo – Kitô giáo, đào sâu những nguồn cội Kinh thánh chung của chúng ta.

Cũng trong dịp kỷ niệm ấy, cuộc gặp gỡ với các đại diện của những tôn giáo khác đã cho phép tôi tái khẳng định sự trân trọng đối với những tiến bộ đã đạt được trong những thập kỷ qua trên hành trình đối thoại liên tôn. Quả thật, trong mọi cuộc tìm kiếm tôn giáo chân thành đều có “một sự phản chiếu của mầu nhiệm Thiên Chúa duy nhất bao trùm mọi loài thụ tạo”[8]. Về phương diện này, tôi kêu gọi tất cả các quốc gia bảo đảm đầy đủ quyền tự do tôn giáo và thờ phượng cho mỗi công dân của mình.

Tuy nhiên, không thể bỏ qua một thực tế rằng việc bách hại các Kitô hữu vẫn là một trong những cuộc khủng hoảng nhân quyền lan rộng nhất hiện nay, ảnh hưởng đến hơn 380 triệu tín hữu trên toàn thế giới. Họ phải chịu đựng sự phân biệt đối xử, bạo lực và áp bức ở mức độ cao hoặc rất cao vì đức tin của mình. Hiện tượng này tác động đến khoảng 1/7 Kitô hữu trên toàn cầu, và nó đã trở nên tồi tệ hơn trong năm 2025 do các cuộc xung đột đang diễn ra, các chế độ độc tài và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Đáng buồn là, tất cả những điều này cho thấy rằng tự do tôn giáo trong nhiều bối cảnh được coi là một “đặc ân” hoặc là sự ban ơn hơn là một quyền con người căn bản.

Ở đây, tôi đặc biệt nhắc đến nhiều nạn nhân của bạo lực, bao gồm bạo lực mang động cơ tôn giáo tại Bangladesh, vùng Sahel và Nigeria, cũng như những nạn nhân của cuộc tấn công khủng bố nghiêm trọng hồi tháng Sáu năm ngoái vào giáo xứ Thánh Êlia tại Damascus. Tôi cũng không quên các nạn nhân của bạo lực thánh chiến tại Cabo Delgado, Mozambique.

Đồng thời, chúng ta cũng không được quên một hình thức phân biệt đối xử tôn giáo tinh vi đối với các Kitô hữu, đang lan rộng ngay cả ở những quốc gia nơi họ chiếm đa số, như ở châu Âu hoặc châu Mỹ. Ở đó, họ có những lúc bị hạn chế khả năng công bố các chân lý của Tin mừng vì những lý do chính trị hoặc hệ tư tưởng, đặc biệt là khi họ bảo vệ phẩm giá của những người yếu thế nhất, của thai nhi, của người tị nạn và di dân, hoặc cổ võ gia đình.

Trong các quan hệ và hành động quốc tế, Tòa thánh luôn giữ lập trường bảo vệ phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người. Chẳng hạn, không thể bỏ qua sự thật rằng mỗi người di cư là một con người, và với tư cách đó, họ có những quyền bất khả xâm phạm phải được tôn trọng trong mọi hoàn cảnh. Không phải tất cả những người di cư đều di chuyển do lựa chọn, mà nhiều người buộc phải tháo chạy vì bạo lực, bách hại, xung đột và thậm chí là do những tác động của biến đổi khí hậu, như ở nhiều khu vực thuộc châu Phi và châu Á. Trong năm nay, cũng là năm đánh dấu kỷ niệm 75 năm thành lập Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), tôi tái khẳng định niềm hy vọng của Tòa thánh rằng hành động mà các quốc gia thực hiện nhằm chống lại tội phạm và nạn buôn người sẽ không trở thành cái cớ để xâm phạm phẩm giá của những người di cư và tị nạn.

Những cân nhắc tương tự cũng cần được áp dụng cho các tù nhân, những người không bao giờ có thể bị quy giản vào những tội ác mà họ đã phạm. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các chính phủ đã đáp lại cách tích cực lời kêu gọi của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi về những cử chỉ khoan hồng trong Năm thánh. Tôi hy vọng rằng tinh thần của Năm thánh sẽ mãi mãi soi dẫn cho việc quản trị công lý theo cơ cấu, để các hình phạt tương xứng với tội đã phạm, những điều kiện giam giữ xứng đáng được bảo đảm cho các tù nhân, và trên hết, nỗ lực bãi bỏ án tử hình là một biện pháp tiêu diệt mọi hy vọng về sự tha thứ và đổi mới[9]. Chúng ta cũng không thể quên nỗi khổ đau của rất nhiều tù nhân bị giam giữ vì lý do chính trị ở nhiều quốc gia.

Hơn nữa, dưới nhãn quan Kitô giáo, con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng “bằng cách gọi họ đi vào sự sống bằng tình yêu, thì đồng thời cũng mời gọi họ yêu thương”[10]. Ơn gọi này được tỏ lộ một cách đặc biệt và duy nhất trong gia đình. Chính trong bối cảnh này, chúng ta học cách yêu thương và nuôi dưỡng khả năng phục vụ sự sống, từ đó đóng góp vào sự phát triển của xã hội và sứ mạng của Giáo hội.

Mặc dù giữ vai trò trung tâm, định chế gia đình ngày nay đang phải đối mặt với hai thách đố then chốt. Một mặt, có một khuynh hướng đáng lo ngại trong hệ thống quốc tế là bỏ qua và đánh giá thấp vai trò xã hội nền tảng của gia đình, dẫn đến việc dần dần gạt nó ra bên lề về mặt định chế. Mặt khác, chúng ta không thể làm ngơ trước thực tại ngày càng tăng và đau đớn về những gia đình mong manh, tan vỡ và đau khổ, bị tổn thương bởi những khó khăn nội tại và những hiện tượng đáng lo ngại, bao gồm cả bạo lực gia đình.

Ơn gọi yêu thương và sự sống, được biểu lộ một cách quan trọng trong sự kết hợp duy nhất và bất khả phân ly giữa một người nữ và một người nam, hàm chứa một mệnh lệnh luân lý căn bản nhằm giúp các gia đình đón nhận và chăm sóc trọn vẹn sự sống chưa chào đời. Điều này ngày càng trở thành một ưu tiên, đặc biệt tại những quốc gia đang trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng về tỷ lệ sinh. Quả thật, sự sống là một ân ban vô giá, được phát triển trong một mối tương quan cam kết, dựa trên sự hiến trao và phục vụ lẫn nhau.

Dưới ánh sáng của tầm nhìn sâu sắc này về sự sống như một món quà cần được trân quý, và gia đình là người bảo hộ có trách nhiệm của món quà ấy, chúng tôi dứt khoát bác bỏ bất kỳ cách thực hành phủ nhận hoặc khai thác nguồn gốc của sự sống và sự phát triển của nó. Trong số đó có việc phá thai, là hành vi cắt đứt một sự sống đang lớn dần và từ chối đón nhận món quà sự sống. Về phương diện này, Tòa thánh bày tỏ quan ngại sâu sắc về các dự án nhằm tài trợ cho việc di chuyển xuyên biên giới nhằm mục đích tiếp cận cái gọi là “quyền phá thai an toàn”. Tòa thánh cũng coi là điều đáng lên án khi các nguồn lực công được phân bổ để dập tắt sự sống, thay vì được đầu tư để hỗ trợ các bà mẹ và gia đình. Mục tiêu hàng đầu phải luôn là bảo vệ mọi thai nhi và sự hỗ trợ hiệu quả, cụ thể cho mọi người phụ nữ để họ có thể đón nhận sự sống.

Tương tự như vậy là việc mang thai hộ. Việc biến quá trình thai nghén thành một dịch vụ có thể thương lượng đã vi phạm phẩm giá của cả đứa trẻ, bị quy giản thành một “sản phẩm”, và của người mẹ, khai thác thân thể và tiến trình sinh sản của bà, đồng thời bóp méo ơn gọi tương quan nguyên thủy của gia đình.

Những cân nhắc tương tự cũng cần được mở rộng đối với người bệnh, người già hoặc người bị cô lập, những người đôi khi phải đấu tranh tìm ra lý do để tiếp tục sống. Xã hội dân sự và các nhà nước cũng có trách nhiệm đáp lại cách cụ thể đối với các tình huống dễ bị tổn thương, đưa ra những giải pháp cho sự đau đớn của con người, chẳng hạn như chăm sóc giảm nhẹ, và thúc đẩy các chính sách liên đới đích thực, thay vì khuyến khích các hình thức lừa dối của lòng trắc ẩn như trợ tử.

Một suy tư tương tự cũng nên được áp dụng liên quan đến nhiều người trẻ đang buộc phải đối mặt với vô vàn khó khăn, trong đó có nạn nghiện ma túy. Để ngăn chặn hàng triệu người trẻ trên khắp thế giới trở thành nạn nhân của việc lạm dụng chất gây nghiện, cần có những nỗ lực phối hợp để xóa bỏ tai họa này đối với nhân loại và nạn buôn bán ma túy đang nuôi dưỡng nó. Cùng với những nỗ lực ấy, phải có các chính sách thích hợp cho việc phục hồi sau nghiện, cũng như đầu tư nhiều hơn vào việc phát triển con người, giáo dục và tạo ra các cơ hội việc làm.

Trước những thách đố này, chúng tôi kiên quyết tái khẳng định rằng việc bảo vệ quyền được sống tạo thành nền tảng không thể thiếu cho mọi quyền khác của con người. Một xã hội chỉ lành mạnh và thực sự tiến bộ khi nó bảo vệ sự thánh thiêng của sự sống con người và hoạt động tích cực để thúc đẩy sự sống đó.

Những suy tư vừa nêu trên đưa tôi đến niềm tin rằng, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đang chứng kiến một sự “đoản mạch” thực sự của các quyền con người. Quyền tự do ngôn luận, tự do lương tâm, tự do tôn giáo và thậm chí cả quyền được sống đang bị hạn chế nhân danh những cái gọi là quyền mới khác, với hệ quả là chính khuôn khổ của nhân quyền đang mất đi sức sống và tạo không gian cho vũ lực và sự áp bức. Điều này xảy ra khi mỗi quyền trở nên tự quy chiếu, và đặc biệt khi nó bị tách rời khỏi thực tại, khỏi tự nhiên và chân lý.

Thưa các vị đại sứ,

Trong khi Thánh Augustinô nhấn mạnh sự tồn tại song song của thành đô trên trời và thành đô trần thế cho đến tận thế, thời đại chúng ta dường như có phần thiên về việc phủ nhận “quyền công dân” của Thành đô của Thiên Chúa. Dường như chỉ có thành đô trần thế tồn tại, khép kín hoàn toàn trong các biên giới của nó. Việc chỉ tìm kiếm những điều tốt đẹp nội tại làm suy yếu “sự bình yên của trật tự”[11], điều mà đối với Thánh Augustinô cấu thành bản chất của hòa bình, vốn liên quan đến xã hội và các quốc gia cũng như chính linh hồn con người, và là điều thiết yếu cho mọi sự chung sống dân sự. Khi thiếu vắng một nền tảng siêu việt và khách quan, chỉ có lòng yêu bản thân ngự trị, đến mức thờ ơ với Thiên Chúa, Đấng cai quản thành đô trần thế[12]. Tuy nhiên, như Thánh Augustinô lưu ý, “sự điên rồ của lòng kiêu ngạo nơi những cá nhân nghĩ rằng điều thiện hảo tối thượng có thể tìm thấy trong cuộc sống này thật là quá lớn, và rằng họ có thể trở nên hạnh phúc nhờ chính nguồn lực của họ”[13].

Lòng kiêu ngạo làm lu mờ cả thực tại lẫn khả năng cảm thông của chúng ta đối với người khác. Không phải ngẫu nhiên mà lòng kiêu ngạo luôn là gốc rễ của mọi xung đột. Do đó, như tôi đã nhắc lại trong Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình, “chúng ta mất đi ý thức về thực tại và đầu hàng trước một cái nhìn phiến diện và méo mó về thế giới, bị biến dạng bởi bóng tối và nỗi sợ hãi”[14], từ đó dọn đường cho tâm thế đối đầu, vốn là tiền đề của mọi cuộc chiến tranh.

Chúng ta nhìn thấy điều này trong nhiều bối cảnh, bắt đầu từ cuộc chiến đang diễn ra tại Ukraine và những đau khổ gây ra cho dân thường. Trước tình cảnh bi thảm này, Tòa thánh mạnh mẽ nhắc lại nhu cầu cấp bách về một lệnh ngừng bắn ngay lập tức, và về một cuộc đối thoại được thúc đẩy bởi việc chân thành tìm kiếm những con đường dẫn đến hòa bình. Tôi khẩn thiết kêu gọi cộng đồng quốc tế không nao núng trong cam kết theo đuổi các giải pháp công bằng và bền vững nhằm bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất và khôi phục niềm hy vọng cho những dân tộc đang đau khổ. Đồng thời, tôi cũng nhấn mạnh sự sẵn sàng hoàn toàn của Tòa thánh trong việc hỗ trợ bất kỳ sáng kiến nào nhằm thúc đẩy hòa bình và hòa hợp.

Đồng thời, chúng ta thấy điều đó tại Thánh địa, nơi mà bất chấp thỏa thuận ngừng bắn được công bố vào tháng Mười, người dân thường vẫn tiếp tục phải chịu đựng một cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng, làm tăng thêm những đau khổ vốn đã tồn tại. Tòa thánh đặc biệt quan tâm đến mọi sáng kiến ngoại giao nhằm tìm cách bảo đảm cho người Palestine ở Dải Gaza một tương lai hòa bình và công lý bền vững trên chính mảnh đất của họ, cũng như cho toàn thể người dân Palestine và toàn thể dân tộc Israel. Cụ thể, giải pháp hai nhà nước vẫn là viễn cảnh thể chế để đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của cả hai dân tộc; tuy nhiên, thật đáng buồn, đã có sự gia tăng bạo lực ở Bờ Tây chống lại dân thường Palestine, những người có quyền sống trong hòa bình trên chính quê hương của họ.

Căng thẳng leo thang ở vùng biển Caribê và dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của châu Mỹ cũng là một nguyên nhân gây quan ngại nghiêm trọng. Tôi xin lặp lại lời kêu gọi khẩn thiết rằng cần tìm kiếm các giải pháp chính trị hòa bình cho tình hình hiện nay, quan tâm đến lợi ích chung của các dân tộc chứ không phải việc bảo vệ các lợi ích đảng phái.

Điều này liên quan cách đặc biệt đến Venezuela, dưới góc độ của những diễn biến gần đây. Trong bối cảnh này, tôi tái khẳng định lời kêu gọi tôn trọng ý chí của người dân Venezuela, và bảo vệ quyền con người và quyền dân sự của tất cả mọi người, nhằm bảo đảm một tương lai ổn định và hòa hợp. Để đạt được mục tiêu đó, nguồn cảm hứng có thể được tìm thấy nơi mẫu gương của hai người con của đất nước này mà tôi đã có niềm vui tuyên phong Thánh hồi tháng Mười vừa qua – José Gregorio Hernández và Nữ tu Carmen Rendiles. Ước gì chứng tá của họ truyền cảm hứng cho việc xây dựng một xã hội đặt nền tảng trên công lý, sự thật, tự do và tình huynh đệ, và từ đó giúp quốc gia này vươn lên từ cuộc khủng hoảng trầm trọng đã đè nặng đất nước trong nhiều năm qua.

Những cuộc khủng hoảng khác cũng rải rác trên bức tranh toàn cầu. Trước hết, tôi đề cập đến tình cảnh tuyệt vọng ở Haiti, bị đánh dấu bởi nhiều hình thức bạo lực, từ buôn người đến lưu vong cưỡng bức và bắt cóc. Về khía cạnh này, tôi hy vọng rằng, với sự hỗ trợ cần thiết và cụ thể của cộng đồng quốc tế, quốc gia này sẽ sớm có thể thực hiện những bước đi cần thiết để khôi phục trật tự dân chủ, chấm dứt bạo lực và đạt được sự hòa giải và hòa bình.

Chúng ta cũng không thể quên tình hình đã ảnh hưởng đến khu vực Hồ Lớn của châu Phi suốt nhiều thập niên qua, nơi bị tàn phá bởi bạo lực đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều nạn nhân. Tôi khuyến khích các bên liên quan tìm kiếm một giải pháp dứt khoát, công bằng và bền vững để chấm dứt một cuộc xung đột đã kéo dài quá lâu. Tương tự, tôi nghĩ đến tình hình tại Sudan, nơi đã biến thành một chiến trường rộng lớn, cũng như sự bất ổn chính trị tiếp diễn ở Nam Sudan, quốc gia trẻ nhất trong gia đình các quốc gia, vốn ra đời sau cuộc trưng cầu dân ý cách đây mười lăm năm.

Chúng ta không thể không nhắc đến những dấu hiệu căng thẳng đang gia tăng ở Đông Á, và bày tỏ hy vọng rằng tất cả các bên liên quan sẽ chọn cách tiếp cận hòa bình và dựa trên đối thoại về các vấn đề tranh chấp, vốn là nguồn gốc của các xung đột tiềm ẩn.

Tâm trí tôi đặc biệt hướng về cuộc khủng hoảng nhân đạo và an ninh nghiêm trọng đang hoành hành tại Myanmar, càng trở nên trầm trọng hơn do trận động đất tàn khốc vào tháng Ba vừa qua. Với sự khẩn thiết mới, tôi kêu gọi hãy can đảm lựa chọn những con đường hòa bình và đối thoại bao dung, nhằm bảo đảm mọi người được tiếp cận viện trợ nhân đạo một cách công bằng và kịp thời. Để có sự xác thực, các tiến trình dân chủ phải đi kèm với ý chí chính trị nhằm theo đuổi ích chung, củng cố sự gắn kết xã hội và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của mỗi con người.

Ở trung tâm của nhiều tình huống mà tôi vừa nêu, chúng ta có thể nhận thấy điều mà Thánh Augustinô đã chỉ ra, đó là tư nghĩ dai dẳng cho rằng hòa bình chỉ có thể đạt được thông qua việc sử dụng vũ lực và răn đe. Trong khi chiến tranh chỉ hài lòng với sự hủy diệt, thì hòa bình đòi hỏi những nỗ lực xây dựng liên tục và kiên nhẫn, cũng như sự cảnh giác không ngừng. Những nỗ lực như thế được đòi hỏi nơi tất cả mọi người, bắt đầu từ các quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân. Tôi đặc biệt nghĩ đến nhu cầu quan trọng phải tiếp nối Hiệp ước New START sẽ hết hạn vào tháng Hai tới. Thật vậy, có nguy cơ quay trở lại cuộc đua sản xuất các loại vũ khí mới ngày càng tinh vi hơn, kể cả bằng phương tiện trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo là một công cụ đòi hỏi sự quản lý thích hợp và có đạo đức, cùng với các khung pháp lý tập trung vào việc bảo vệ tự do và trách nhiệm của con người.

Thưa các vị đại sứ,

Bất chấp tình cảnh bi thảm trước mắt chúng ta, hòa bình vẫn là một sự thiện hảo khó đạt nhưng thực tế. Như Thánh Augustinô nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình là “mục tiêu thiện hảo của chúng ta”[15], bởi vì nó là mục đích của thành đô Thiên Chúa, điều mà chúng ta khao khát, ngay cả trong vô thức, và là điều mà chúng ta có thể nếm trải trước ngay cả trong thành đô trần thế. Trong cuộc lữ hành của chúng ta trên mặt đất này, việc kiến tạo hòa bình đòi hỏi sự khiêm nhường và lòng can đảm. Khiêm nhường để sống sự thật, và can đảm để tha thứ. Trong đời sống Kitô giáo, chúng ta thấy những nhân đức này được phản chiếu trong mầu nhiệm Giáng sinh, khi Sự Thật, Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa, trở nên người phàm khiêm hạ, và trong mầu nhiệm Phục sinh, khi Đấng Công Chính bị kết án đã tha thứ cho những kẻ bách hại mình và ban tặng cho họ sự sống của Người với tư cách là Đấng Phục Sinh.

Hơn nữa, nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, không thiếu những dấu chỉ của niềm hy vọng can đảm trong thời đại chúng ta, và chúng ta cần không ngừng ủng hộ chúng. Tôi nghĩ đến, chẳng hạn, Thỏa ước Dayton, cách đây ba mươi năm đã chấm dứt cuộc chiến đẫm máu ở Bosnia và Herzegovina. Bất kể những khó khăn và căng thẳng, chúng đã mở ra khả năng cho một tương lai thịnh vượng và hòa hợp hơn. Tôi cũng nghĩ đến Tuyên bố chung về Hòa bình giữa Armenia và Azerbaijan, được ký kết vào tháng Tám năm ngoái. Chúng ta hy vọng điều này sẽ mở đường cho một nền hòa bình công bằng và lâu dài ở Nam Caucasus, và giải quyết các vấn đề còn tồn đọng một cách thỏa đáng cho cả hai bên. Cũng vậy, tôi nhớ đến những nỗ lực mà các nhà chức trách Việt Nam đã thực hiện trong những năm gần đây nhằm cải thiện quan hệ với Tòa thánh và các điều kiện hoạt động của Giáo hội tại quốc gia này. Đó đều là những hạt giống hòa bình cần được vun trồng.

Tháng Mười tới đây sẽ đánh dấu tám thế kỷ ngày qua đời của Thánh Phanxicô Assisi, một con người của hòa bình và đối thoại, được nhìn nhận cách phổ quát ngay cả bởi những người không thuộc Giáo hội Công giáo. Cuộc đời ngài tỏa sáng rực rỡ, vì nó được truyền cảm hứng bởi lòng can đảm để sống trong sự thật, và biết rằng một thế giới hòa bình được xây dựng bắt đầu từ những tâm hồn khiêm nhường hướng về thành đô trên trời. Một tâm hồn khiêm nhường và yêu chuộng hòa bình là điều tôi mong ước cho mỗi chúng ta, và cho tất cả những người đang cư ngụ trong các quốc gia của quý vị, khi bước vào đầu Năm Mới này.

Cảm ơn quý vị.

Tri Khoan

Chuyển ngữ từ: vatican.va

_______________

[1] Đức Bênêđictô XVI, Bài Giáo lý ngày 20 tháng 02 năm 2008.

[2] Sđd.

[3] X. Đức Phanxicô, Bài phát biểu tại Đại hội Giáo hội Ý lần thứ V, Florence (10 tháng 11 năm 2015).

[4] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/03/1967), 76: AAS 59 (1967), 294-295.

[5] Thánh Augustinô, De Civ. Dei, XIX, 12.1.

[6] Thánh Augustinô, De Civ. Dei, XIX, 7.

[7] Đức Bênêđictô XVI, Diễn văn trước các thành viên Ngoại giao đoàn, ngày 09 tháng 01 năm 2012.

[8] Bài Giáo lý, ngày 29 tháng 10 năm 2025

[9] x. Đức Phanxicô, Sắc chỉ về Năm thánh Thường lệ 2025 Spes non Confudit (09 tháng 5 năm 2024), 10: AAS 116 (2024), 654-655.

[10] Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio (22/11/1981), 11: AAS 74 (1982), 91.

[11] x. Thánh Augustinô, De Civ. Dei, XIX, 13.

[12] Sđd., XIV, 28.

[13] Sđd., XIX, 4.4.

[14] Đức Phanxicô, Sứ điệp nhân ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 49 (08 tháng 12 năm 2025), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-duc-thanh-cha-cho-ngay-hoa-binh-the-gioi-nam-2025—xin-tha-no-cho-chung-con-xin-ban-binh-an-cua-ngai-cho-chung-con

[15] Thánh Augustinô, De Civ. Dei, XIX, 11.