Những bước tiến vượt bậc của các hệ thống trí tuệ nhân tạo phục vụ người dùng trong những năm gần đây, đã thúc đẩy Giáo hội dấn thân sâu rộng hơn vào cuộc đối thoại với các công ty đang kiến tạo những công nghệ của tương lai.

Tiến trình này không chỉ dẫn đến những chỉ trích nhắm vào Giáo hội vì đã cộng tác với các tập đoàn công nghệ nhằm định hướng sự phát triển của AI, mà còn khiến những người trong giới công nghệ đối thoại với Giáo hội cũng phải đối diện với nhiều phê bình.

Tuy nhiên, theo ông Taylor Black, khi xem tôn giáo và thần học như một “lĩnh vực thứ yếu”, các nhà phát triển có nguy cơ đánh mất cơ hội hiểu sâu sắc hơn về cách suy nghĩ của chính những người sử dụng sản phẩm của mình.

Ông Taylor Black hiện là Giám đốc phụ trách Hệ sinh thái Trí tuệ nhân tạo và Khởi nghiệp thuộc Văn phòng Giám đốc Công nghệ của Microsoft, đồng thời là Giám đốc đầu tiên của Viện Leonum về Trí tuệ nhân tạo và Công nghệ mới nổi tại The Catholic University of America.

Bên cạnh đó, ông còn là một phó tế vĩnh viễn của Giáo phận Công giáo Đông phương Byzantine Phoenix. Những vai trò này cho phép ông vừa suy tư về tương lai của AI trên bình diện triết học, vừa tham gia định hướng các khoản đầu tư của Microsoft vào các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Trong cuộc trao đổi với Vatican News với tư cách cá nhân, ông Black nhận định rằng công nghệ không sở hữu một nền nhân học hay một quan niệm cụ thể nào về con người.

Trên thực tế, các sản phẩm AI tạo sinh (generative AI) hoặc AI tác nhân (agentic AI) hoạt động dựa trên xác suất, chúng liên tục dự đoán từ ngữ hoặc hành động tiếp theo trong một chuỗi, dựa trên dữ liệu đã được huấn luyện và yêu cầu của người dùng.

Điều này dẫn đến một thực tế mới: người sử dụng đang đồng kiến tạo trải nghiệm của chính mình. Vì thế, các sản phẩm AI cần được xây dựng trên sự hiểu biết sâu sắc về cách người dùng suy nghĩ.

Đáp lại mô hình phát triển công nghệ mới này, vào tháng 01 năm 2025, Bộ Giáo lý Đức tin và Bộ Văn hóa và Giáo dục đã công bố Văn kiện Antiqua et Nova: Note on the Relationship Between Artificial Intelligence and Human Intelligence (Sự khôn ngoan vừa cổ xưa vừa mới mẻ: Những lưu ý về mối tương quan giữa trí tuệ nhân tạo và trí tuệ con người).

Tiếp đó, ngày 25 tháng 5 năm 2026, Đức Thánh cha Lêô XIV đã thực thi quyền giáo huấn của mình qua việc công bố Thông điệp đầu tiên mang tên Magnifica Humanitas.

Cả hai văn kiện đều tìm cách vận dụng kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu xa của Giáo hội về con người vào lĩnh vực công nghệ AI đang phát triển nhanh chóng.

Theo ông Black, Thông điệp của Đức Thánh cha Lêô XIV nhấn mạnh rằng AI có thể định hình sự phát triển của người sử dụng nếu họ từ bỏ khả năng suy tư phê phán và chấp nhận mọi điều chatbot của trí tuệ nhân tạo đề xuất mà không kiểm chứng.

Ông cho rằng nguy cơ này đặc biệt đáng lo ngại đối với trẻ em, bởi vùng thuỳ não trước trán (phần đảm trách việc phán đoán và đưa ra quyết định) vẫn tiếp tục phát triển cho đến khoảng giữa tuổi hai mươi.

Ông đưa ra hình ảnh minh hoạ: một phụ huynh để con mình ở cùng với một người lớn có những tiêu chuẩn đạo đức mơ hồ, người ấy rất thông thái nhưng cũng có thể chia sẻ những điều mà cha mẹ không mong muốn con cái mình tiếp nhận, dù không phải với ác ý.

Trong nỗ lực trở nên hữu ích, AI cũng có thể thay đổi giọng nói hay hình ảnh của chúng ta, đôi khi đẩy con người thật sang một bên để thay thế bằng một phiên bản lý tưởng hóa.

Ông Black nhận xét: “AI đang góp phần định hình chúng ta theo cách mà người trưởng thành có thể tự do chấp nhận hoặc từ chối. Nhưng đối với trẻ em, các em chưa thực sự có khả năng tham gia trọn vẹn vào tiến trình định hình ấy bằng chính sự sáng tạo, tiếng nói và bản sắc riêng của mình trong thế giới như người lớn.”

******

Hỏi: Ông đang dấn thân sâu rộng vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới nổi khác, cả trên bình diện tư tưởng triết học lẫn trong vai trò kinh doanh tại Microsoft. Theo ông, Thông điệp Magnifica Humanitas có thể góp phần định hướng như thế nào cho sự phát triển trí tuệ nhân tạo một cách có đạo đức trong ngành công nghệ?

[Taylor Black:] Tôi cho rằng một trong những lý do khiến giới công nghệ tìm đến nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau để đào sâu sự hiểu biết về con người là vì, khi chúng ta phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo mang tính tạo sinh (generative) hoặc có khả năng tác nhân (agentic), những hệ thống ấy vận hành theo các mô hình xác suất.

Điều đó có nghĩa là người sử dụng các sản phẩm của chúng tôi không còn chỉ là người tiếp nhận thụ động, nhưng trở thành người cùng tham gia kiến tạo nên chính trải nghiệm của mình, thông qua sự tương tác với hệ thống mà chúng tôi đã phát triển.

Đây là một thực tại mới trong lịch sử phát triển các sản phẩm công nghệ. Trước thời đại trí tuệ nhân tạo, phần lớn các hệ thống mà chúng tôi tạo ra đều vận hành theo cơ chế tất định. Chúng tôi có thể biết trước và dự liệu khá chính xác điều gì sẽ xảy ra khi người dùng sử dụng sản phẩm của mình.

Ngày nay, chúng tôi không còn có thể nhận định một cách chắc chắn như trước về những gì người sử dụng có thể cùng kiến tạo thông qua sự tương tác với các hệ thống ấy. Vì thế, nhu cầu hiểu biết sâu sắc hơn về con người trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chỉ khi hiểu rõ người sử dụng, chúng tôi mới có thể nhận ra và lượng định những kết quả có thể phát sinh từ việc họ sử dụng các sản phẩm mà chúng tôi phát triển.

Công nghệ, tự bản chất, không sở hữu một nền nhân học riêng. Nó cũng không chủ trương hay đề xuất một quan niệm toàn diện về con người. Công nghệ cũng không tự nhận mình là chuyên gia trong lĩnh vực nhân học.

Tuy nhiên, ngày nay chúng tôi cần suy tư về vấn đề này một cách sâu xa hơn, bởi nó tác động trực tiếp đến chính cách thức chúng tôi thiết kế và phát triển các sản phẩm công nghệ. Việc hiểu biết thấu đáo hơn về con người giúp chúng tôi xây dựng những hệ thống đáp ứng tốt hơn các nhu cầu và trải nghiệm của người sử dụng. Đồng thời, thật lòng là điều đó cũng giúp chúng tôi giữ lại được người dùng vì họ tìm thấy các sản phẩm mang lại giá trị thực sự qua những tương tác và những hành vi đồng kiến tạo mà họ thực hiện trong quá trình sử dụng.

Hỏi: Trong công việc tại Microsoft, ông là người tham gia quyết định những công ty khởi nghiệp nào sẽ được tiếp cận nguồn vốn để hiện thực hóa các ý tưởng và kế hoạch kinh doanh của mình. Thông điệp và mối tương quan giữa Hội thánh với các tập đoàn công nghệ lớn có thể định hướng công việc của các đồng nghiệp của ông, những người đang đảm nhận vai trò phân bổ nguồn vốn như thế nào?

Điều này một lần nữa đưa chúng ta trở lại với tư duy về việc phát triển sản phẩm. Nếu một sản phẩm hay một công ty khởi nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo được xây dựng trên hình ảnh của một người dùng không có thực, bởi vì nó xuất phát từ một quan niệm phiến diện về con người, thì sản phẩm ấy sẽ khó đạt được thành công như mong đợi trên thị trường. Trái lại, nếu sản phẩm biết tôn trọng cách con người thực sự suy nghĩ và đưa ra những phán đoán của mình, thì cơ hội thành công sẽ lớn hơn nhiều.

Vì thế, từ cách suy tư ấy và từ cách mà Thông điệp trình bày vấn đề này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến những công ty khởi nghiệp và những sản phẩm biết tôn trọng hơn cách con người thực sự hoạt động. Bởi lẽ khi đó, người sử dụng – dù là khách hàng của các công ty khởi nghiệp hay của các tập đoàn công nghệ lớn – sẽ có được một trải nghiệm tốt hơn khi sử dụng những sản phẩm ấy.

Từ đó, đối với chúng tôi, điều hết sức quan trọng là cách một công ty khởi nghiệp hay một sản phẩm xây dựng phương pháp thiết kế của mình, cách họ suy nghĩ về việc phát triển AI có trách nhiệm, cũng như cách họ thiết kế các giao diện và hình thức tương tác của các hệ thống AI. Điều này đặc biệt quan trọng vì AI ngày càng được tích hợp sâu hơn vào chính các tiến trình nhận thức của con người, đồng thời ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn đến cách các cá nhân và tập thể cộng tác, nhất là qua những giao diện có khả năng hành động và ra quyết định ngày càng tự chủ hơn.

Cả hai điều này đều đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc hơn về con người, vượt quá cách hiểu mà ngành công nghệ từ trước đến nay vẫn thường dựa vào, bởi lẽ công nghệ ngày càng được tích hợp sâu hơn vào chính đời sống và hoạt động của con người.

Hỏi: Với tư cách là Giám đốc sáng lập Viện Trí tuệ nhân tạo thuộc Đại học Công giáo Hoa Kỳ, đồng thời là một người cha, ông hy vọng sẽ sử dụng Thông điệp Magnifica Humanitas như thế nào để giáo dục người trẻ về cách tiếp cận và tương tác với AI?

Thật ra, mới đầu tuần này, tôi đã có dịp chia sẻ với một nhóm phụ huynh tại ngôi trường Công giáo theo mô hình giáo dục cổ điển mà các con tôi đang theo học ở khu vực Seattle.

Một trong những vấn đề chúng tôi trao đổi là lời khuyến nghị của Thông điệp về việc chúng ta cần hết sức thận trọng đối với các loại giao diện màn hình, các nền tảng truyền thông xã hội và cả các giao diện AI mà trẻ em tiếp cận. Điều này đặc biệt quan trọng vì việc sử dụng các hệ thống AI mang tính tác nhân (agentic AI) cũng như AI tạo sinh (generative AI) đòi hỏi khả năng phán đoán và phân định rất lớn. Khi sử dụng các công cụ này, người dùng luôn phải tự hỏi liệu những gì mình đang được cung cấp hoặc được nói cho biết có thực sự đúng sự thật hay không.

Ngoài ra, còn một mối bận tâm khác nữa, đó là làm sao mỗi người có thể hình thành tiếng nói riêng của mình trước khi để người khác định hình tiếng nói ấy thay cho mình.

Chính hai mối quan tâm ấy đã định hướng cuộc trao đổi của tôi với các bậc phụ huynh, đồng thời cũng ảnh hưởng đến cách tôi giáo dục con cái mình, đặc biệt trong việc hạn chế sự tiếp xúc với công nghệ cho đến khi các con đạt được sự trưởng thành về trí tuệ, đủ để có thể tiếp cận và sử dụng công nghệ một cách đúng đắn.

Tôi thường nhắc mọi người rằng trẻ em không chỉ đối diện với những giới hạn về mặt giáo dục hay nhận thức, mà còn có những giới hạn về mặt phát triển thể lý. Nói theo ngôn ngữ công nghệ, các em không chỉ có những “vấn đề phần mềm” mà còn có những “vấn đề phần cứng”, bởi vùng vỏ não trước trán của con người chỉ thực sự phát triển hoàn chỉnh khi bước vào những năm đầu của độ tuổi đôi mươi.

Theo tôi, điều đó khiến chúng ta cần suy nghĩ nghiêm túc và cân nhắc thận trọng về những loại trải nghiệm mà chúng ta đang để trẻ em tiếp cận.

Khi trao đổi với các bậc phụ huynh, tôi đã đưa ra một ví dụ: đó là việc để con mình ở một mình với một người bạn trưởng thành rất thông minh nhưng có những chuẩn mực luân lý không rõ ràng.

Người bạn trưởng thành ấy có thể mang lại nhiều hiểu biết quý giá về các vì sao và các dãy thiên hà, về hóa học, văn chương và nhiều lãnh vực khác nữa.

Tuy nhiên, vì những chuẩn mực luân lý không thật rõ ràng, người ấy cũng có thể nói với con bạn những điều các em không nên nghe, hoặc khuyến khích các em nói những điều không thích hợp. Điều đó không nhất thiết xuất phát từ ác ý. Đúng hơn, đó là hệ quả của một cơ chế vận hành thuần túy dựa trên xác suất thống kê. Thế nhưng, trẻ em chưa có đủ khả năng phán đoán và phân định để nhận ra điều ấy như những người trưởng thành đã phát triển đầy đủ.

Ngoài ra, còn một khía cạnh rất đáng quan tâm khác mà Đức Giáo hoàng Lêô XIV cũng đề cập trong Thông điệp cũng như trong một số phát biểu hồi đầu năm nay, đó là khả năng làm chủ tiếng nói và hình ảnh của chính mình.

Tôi nghĩ rằng khi suy tư về khía cạnh này, Đức Thánh Cha đang mời gọi chúng ta nhận ra một thực tế rằng: chúng ta, những người trưởng thành đã có được một thuận lợi lớn lao khi lớn lên và có nhiều thời gian để hình thành cách suy nghĩ, cách viết và cách diễn đạt của riêng mình mà không cần đến sự hỗ trợ của các công cụ AI tạo sinh.

Các công cụ AI tạo sinh, trong nỗ lực không ngừng nhằm hỗ trợ con người, lại có thể định hình chính ngôn ngữ của chúng ta. Chúng có thể làm thay đổi cách tiếng nói của chúng ta được diễn đạt, làm biến đổi âm sắc tiếng nói của chúng ta. Chúng cũng có thể thay đổi diện mạo của chúng ta trên các phương tiện truyền thông kỹ thuật số đến mức hình ảnh ấy không còn thực sự là của chính chúng ta nữa.

AI đang góp phần định hình chúng ta, và nếu muốn, chúng ta có thể tự do chấp nhận sự tác động ấy. Nhưng một lần nữa, đối với trẻ em thì khác. Các em chưa thật sự có khả đồng thuận cách đầy đủ với sự định hình đó, đồng thời chưa thể đóng góp vào tiến trình ấy bằng khả năng sáng tạo riêng, bằng tiếng nói riêng, và bằng cách hiện diện riêng của mình trong thế giới như người lớn có thể làm.

Giờ đây, khi đã có những công cụ này, chúng ta có thể tạo nên một điều gì đó mang đậm tiếng nói của chính mình hơn – như cách mà chúng ta vẫn luôn mong muốn bản thân có thể cất lên trong suốt cuộc đời.

Đối với trẻ em, điều đó lại có thể là một bất lợi. Nó có thể khiến tiếng nói của chính các em bị đẩy theo một hướng mà bản thân các em cũng không hoàn toàn mong muốn.

Hỏi: Việc ban hành thông điệp của Đức Giáo hoàng Lêô đánh dấu một cột mốc quan trọng trong hành trình của Giáo hội với trí tuệ nhân tạo (AI). Theo ông, những bước tiếp theo trong mối quan hệ giữa Giáo hội và các nhà phát triển AI nên là gì?

Tôi nghĩ hiện có nhiều công việc rất thú vị đang được thực hiện bởi các tổ chức phi lợi nhuận và các nhóm nghiên cứu trong lĩnh vực này. Họ đang cố gắng chuyển những định hướng mà Giáo hội đã đưa ra ở cấp độ khái quát và nguyên tắc thành cách thức cụ thể để thiết kế, xây dựng và phát triển các hệ thống AI.

Thật vậy, chính Thông điệp này cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng về mặt đạo đức, văn hóa và xã hội của công việc mà các nhà phát triển AI đang thực hiện.

Tôi mong chờ một mối quan hệ gắn kết sâu sắc hơn giữa những nguyên tắc mà Vatican đề xuất và thực tiễn mà chúng tôi – những người trực tiếp xây dựng AI – phải đối diện khi thật sự bắt tay vào phát triển các công cụ này, từ lúc đặt tay lên bàn phím đến khi tương tác với các tác nhân AI bằng chính giọng nói của mình.

Đó mới thực sự là lúc mọi nguyên tắc được đem ra kiểm chứng trong thực tế. Điều tôi mong muốn là có sự tương tác hai chiều: để những người làm công nghệ có thể mang các vấn đề thực tiễn đến với Giáo hội, hoặc đến với triết học và thần học, và nói rằng: “Đây là cách công nghệ này thực sự vận hành về mặt kỹ thuật.”

Đồng thời, từ những hiểu biết và góc nhìn của các nhà thần học, các triết gia và Giáo hội, họ có thể nói: “Giờ đây, khi đã hiểu công nghệ này thực sự vận hành như thế nào qua lời giải thích của anh, thì anh nên thiết kế nó, hoặc định hướng sự phát triển của nó theo hướng này.”

Tinh thần đối thoại và cộng tác ấy – cùng với việc sẵn sàng cùng nhau vượt qua những cuộc trao đổi khó khăn ngay trong quá trình trực tiếp xây dựng công nghệ – được nhấn mạnh xuyên suốt toàn bộ Thông điệp. Tôi thực sự trân trọng điều đó và mong chờ những mối quan hệ như thế sẽ ngày càng được củng cố và phát triển sâu sắc hơn.

Hỏi: Một số người đã chỉ trích người Công giáo vì hợp tác và đối thoại với các nhà phát triển AI mà họ cho là có nhiều vấn đề về mặt đạo đức. Đồng thời, từ phía các nhà phát triển AI cũng có những ý kiến cho rằng việc đối thoại với Giáo hội là không cần thiết, và đặt câu hỏi vì sao Giáo hội lại có quyền lên tiếng về những vấn đề xã hội như thế này. Ông có nhận thấy những phản ứng hoặc chỉ trích tương tự từ phía cộng đồng các nhà phát triển AI không?

Tôi đã gặp những ý kiến như vậy, và thành thật mà nói, tôi không cho rằng đó là những lời phê bình thực sự sâu sắc hay thuyết phục, dù đến từ phía nào. Lý do là vì, theo quan sát của tôi, chúng thường xuất phát từ một cách nhìn khá ngây thơ về lập trường tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước ở Hoa Kỳ – vốn dĩ chỉ là một sản phẩm của lịch sử, dù đó cũng là một khía cạnh lịch sử khá thú vị.

Nhưng hệ quả của cách nhìn đó là nó đẩy tôn giáo, thần học và những câu hỏi sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống vào một lĩnh vực bị xem như chỉ là thứ yếu, thay vì nhìn nhận chúng như những nhu cầu rất thật mà tất cả chúng ta đều trải nghiệm – đó là nhu cầu hướng đến điều siêu việt và nhu cầu thờ phượng. Đó là câu trả lời của tôi ở góc độ lý thuyết.

Còn trên phương diện thực tế, dĩ nhiên điều chúng tôi luôn cố gắng làm là hiểu sâu hơn về cách khách hàng của mình làm việc. Trước khi AI xuất hiện, khi phát triển sản phẩm, chúng tôi thường quan sát cách khách hàng sử dụng giao diện hoặc thực hiện một chuỗi công việc; xem họ tiếp cận từng tác vụ như thế nào, theo dõi cách họ sử dụng những công cụ mà chúng tôi đã tạo ra, rồi từ đó điều chỉnh giao diện hoặc thay đổi cách công cụ vận hành theo những quy tắc xác định rõ ràng, để giúp họ hoàn thành công việc hiệu quả hơn.

Đến hiện nay, với AI, việc nghiên cứu người dùng đã khác. Chúng tôi có thể quan sát ai đó gõ một câu hỏi, rồi thấy họ không hài lòng với câu trả lời – toàn bộ quá trình ấy thực chất lại diễn ra bên trong suy nghĩ của chính người đó.

Vì vậy, giờ đây chúng tôi cần có một cấp độ hiểu biết sâu hơn để nắm được cách người dùng thực sự trải nghiệm sản phẩm của mình và cách họ cùng với AI tạo ra điều mà họ mong muốn thông qua giao diện AI tạo sinh này.

Điều đó tự nó đặt ra những câu hỏi căn bản về con người, ngay cả khi chỉ xét từ góc độ phát triển sản phẩm.

Do đó, nếu không sẵn sàng khám phá những quan niệm khác nhau về con người thông qua đối thoại với những tổ chức hay cộng đồng có những quan điểm rõ ràng và sâu sắc về con người là gì cũng như con người hoạt động và phát triển như thế nào, thì theo tôi, đó là một cách tiếp cận sai lầm và quá thiển cận trong việc xây dựng những sản phẩm mà khách hàng thực sự biết đến và yêu thích.

Điều khiến tôi thấy khá thú vị là nhiều công ty công nghệ, dù lớn hay nhỏ, lại tự thu hẹp cách nhìn về việc phát triển sản phẩm chỉ vì những yếu tố mang tính lịch sử, chẳng hạn như quan điểm tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước.

Tác giả: Devin Watkins

Nguồn: Vatican News